PNVN Tai biến y khoa là điều không ai muốn nhưng vẫn xảy ra. Bộ trưởng Bộ Y tế cho rằng, nguyên nhân dẫn đến tai biến y khoa, ngoài yếu tố môi trường, cá nhân thì còn do tính hệ thống.

Nói về nguyên nhân dẫn đến sự cố y khoa tại Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến cho rằng có nhiều yếu tố. Trong đó, BV là môi trường có nhiều nguy cơ để tai biến xảy ra.
 
Theo đó, sự cố y khoa trong môi trường y tế như kê đơn nhiều thuốc, y lệnh không rõ ràng; sao y đơn thuốc. Tại một số BV, hiện tượng quá tải bệnh nhân cũng dẫn đến việc nhân viên y tế cắt xén hoặc làm tắt các quy trình chuyên môn, lợi ích của người bệnh không được đặt lên hàng đầu dẫn đến việc lạm dụng thuốc.

Ngoài ra, quá tải BV cũng khiến người bệnh thiếu kiên nhẫn và hợp tác với nhân viên y tế. Trong khi đó, nhân viên y tế quá tải chịu nhiều áp lực, do vậy sự cố y khoa cũng dễ xảy ra. Đó là chưa kể nhân viên y tế quên không lấy bệnh phẩm xét nghiệm, quên không bàn giao cho ca trực sau, quên không điền thông tin vào bệnh án… dẫn đến việc nhầm người bệnh.
su-co-y-khoa-noi-dau-cua-nguoi-benh-va-thay-thuoc-2.jpg
Nhân viên y tế cấp cứu cho bệnh nhân do sự cố chạy thận tại BV Đa khoa Hòa Bình

Cũng theo Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến, tai biến y khoa còn do nguyên nhân có tính chất hệ thống. Theo đó, lãnh đạo cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chưa đặt an toàn người bệnh là ưu tiên hàng đầu trong chương trình cải tiến chất lượng của đơn vị, thiếu phân bổ nguồn lực thích hợp cho hoạt động an toàn đối với người bệnh. Trong hoạt động quản lý BV vẫn còn tồn tại suy nghĩ nguyên nhân của sự cố y khoa chủ yếu là do lỗi cá nhân, ít khi xem xét lỗi hệ thống.

Tại nhiều BV, việc triển khai hoạt động phòng ngừa sự cố y khoa chưa được quan tâm đúng mức. Ví như chưa xây dựng hệ thống quản lý, sai sót, sự cố; công tác tổng hợp, báo cáo, giám sát sai sót, sự cố chưa được chú trọng; thiếu xây dựng các quy trình kỹ thuật để đảm bảo an toàn đối với người bệnh; thiếu hoạt động huấn luyện về an toàn đối với người bệnh cho nhân viên y tế…
 
Về phía cán bộ y tế, Bộ trưởng thẳng thắn thừa nhận nhiều cán bộ y tế, đa số chưa qua các khóa huấn luyện về an toàn đối với bệnh nhân; không tuân tủ đúng quy trình, quy định về an toàn đối với bệnh nhân của BV khi thực hiện các kỹ thuật; kỹ năng thực hành còn hạn chế; việc trao đổi thông tin giữa người bệnh, nhân viên y tế và người quản lý còn nhiều hạn chế.

Về phía người bệnh, các yếu tố về đặc điểm của người bệnh như cơ địa, sức đề kháng khác nhau cũng là điều kiện thuận lợi để sự cố y khoa xảy ra.

Hiện nay, Việt Nam chưa có hệ thống giám sát, thống kê về tai biến y khoa trên toàn quốc. Tuy nhiên, để sớm có thông tin nhằm quản lý các trường hợp tai biến y khoa tốt hơn, Bộ Y tế đang xây dựng Dự thảo Thông tư “Hướng dẫn quản lý sự cố y khoa trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh”. Trong đó, tập trung hướng dẫn thống nhất quy định liên quan đến nhận diện, phân loại, báo cáo sự cố và một số nguyên tắc cơ bản việc khắc phục, xử lý, xác định nguyên nhân, phòng ngừa sự cố y khoa, Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến nói.

Theo các nhà nghiên cứu y học Mỹ, y khoa là lĩnh vực có nhiều rủi ro nhất đối với khách hàng. Tại Mỹ, mỗi năm có ít nhất từ 44.000 đến 98.000 người tử vong do các sự cố y khoa.

Thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cho thấy, hàng năm có khoảng 230 triệu phẫu thuật. Trong đó, tử vong trực tiếp liên quan tới phẫu thuật từ 0,4-0,8%; biến chứng do phẫu thuật từ 3-16%. Theo Viện nghiên cứu Y học Mỹ và Úc, gần 50% các sự cố y khoa không mong muốn liên quan đến người bệnh có phẫu thuật. Ngoài ra, các sự cố y khoa liên quan đến nhiễm khuẩn bệnh viện từ 4,5%-8% người bệnh nội trú.

Như Ngọc