PNVN Nước ối xuất hiện trong vòng 12 ngày đầu tiên sau khi thụ thai. Nước ối có nhiều chức năng quan trọng và thiết yếu cho sự phát triển của thai nhi. Tuy nhiên, nếu lượng nước ối quá ít hoặc quá nhiều cũng đều bất lợi cho em bé.

Khi còn trong bụng mẹ, em bé sẽ nằm trong túi ối - túi có cấu tạo gồm 2 màng (màng ối và màng đệm). Trong túi ối, em bé được bao quanh bởi nước ối.

Ban đầu, nước ối chỉ gồm nước do người mẹ sản sinh ra. Tuy nhiên, nó sẽ sớm được thay thế dần bởi nước tiểu của thai nhi, vào khoảng tuần 20 của thai kỳ. Nước ối không chỉ có nước tiểu mà còn chứa các thành phần quan trọng như chất dinh dưỡng, hormone và các kháng thể chống nhiễm trùng.
 
 Bình thường, nước ối đạt mức cao nhất ở tuần 34-36 của thai kỳ, trung bình là 800ml. Lượng nước ối giảm khi sắp đến ngày sinh, trung bình khoảng 600ml ở tuần thứ 40 của thai kỳ.
thai-ph.jpg
Thai phụ cần phải đi thăm khám để biết sự phát triển của thai nhi
Tuy nhiên, không ít trường hợp có lượng nước ối thấp, gọi là thiểu ối. Thiểu ối xuất hiện ở 4% số trường hợp mang thai và ở 12% số trường hợp thai quá ngày sinh (thai già tháng). Thiếu ối là khi chỉ số nước ối lúc siêu âm dưới 5cm (chỉ số bình thường là 5- 25cm). Thiểu ối cũng có thể xảy ra ở những thai phụ có tiền sử bị các bệnh như: Cao huyết áp mạn tính, nhau bong non, tiền sản giật, tiểu đường, đa thai...

Thiểu ối có thể xảy ra trong bất kỳ giai đoạn nào của thai kỳ nhưng nguy hiểm nhất là ở 6 tháng đầu của thai kỳ. Lúc này, em bé có nguy cơ cao bị dị tật bẩm sinh, sẩy thai, sinh non hoặc thai lưu.

Khi thiểu ối xuất hiện trong 3 tháng cuối thai kỳ, em bé cũng dễ phát triển chậm, mắc các tai biến khi chuyển dạ và cần mổ lấy thai. Vì thế, nếu bị thiểu ối, thai phụ cần được theo dõi chặt chẽ.

Bên cạnh đó, thai phụ cũng có thể bị thừa nước ối, xảy ra ở 1% số trường hợp mang thai. Nguyên nhân dẫn đến đa ối có thể do thai phụ bị rối loạn tiêu hóa, teo tá tràng hoặc thực quản hẹp, bất sản sụn - một rối loạn phát triển của xương; thai nhi gặp vấn đề về nhịp tim; rối loạn tăng trưởng bẩm sinh; hội chứng truyền máu song thai, trong đó một trẻ nhận được nhiều máu hơn trẻ kia; bệnh tiểu đường của mẹ kiểm soát kém.

Khi bị đa ối, thai phụ thường có biểu hiện như: Đau bụng và khó thở do tử cung giãn to. Tình trạng này cũng có thể gây ra các biến chứng như chuyển dạ sớm, vỡ ối sớm, nhau bong non, thai lưu, băng huyết sau sinh và ngôi thai bất thường. Nếu bị đa ối nhẹ thì việc điều trị sẽ dễ dàng. Trong trường hợp nặng hơn, có thể phải giảm lượng nước ối bằng cách chọc ối hoặc bằng thuốc indomethacin để làm giảm lượng nước tiểu của em bé.

Cẩm Tú