Lý do phụ nữ Úc có tiền tiết kiệm ít hơn nam giới

08:04 | 22/01/2021
Trang yahoo.com vừa công bố những dữ liệu thống kê hết sức thú vị về tiền tiết kiệm của người Úc.

Theo số liệu mới nhất, người Australia trung bình có 28.426 USD tiền tiết kiệm, nhưng con số này thay đổi rất nhiều tùy thuộc vào độ tuổi và giới tính.

Theo yahoo.com, những người Australia từ 56 đến 74 tuổi, có nhiều tiền tiết kiệm nhất, với mức trung bình là 40.463 USD. Những người từ 40-55 tuổi tiết kiệm được trung bình 34.025 USD, những người từ 24-39 tuổi tiết kiệm được trung bình 22.532 USD. Những người từ 8 đến 23 tuổi có số tiền tiết kiệm trung bình thấp nhất, ở mức 10.568 USD.

Trong khi đàn ông Australia từ 56 đến 74 tuổi có 40.463 USD, thì phụ nữ Australia ở cùng độ tuổi lại có số tiền tiết kiệm ít hơn đáng kể: 30.162 USD. Mỗi tháng, trung bình người Australia tiết kiệm được 717 USD, trong đó phụ nữ tiết kiệm 598 USD và nam giới tiết kiệm được 839 USD.

Phụ nữ Australia có ít tiền tiết kiệm hơn đàn ông không phải vì họ tiêu hoang hơn, mà do họ có thu nhập thấp hơn phái mạnh. Theo Cơ quan bình đẳng giới tại nơi làm việc của chính phủ Australia (WGEA), mỗi năm, chênh lệch lương cơ bản theo giới ở quốc gia thuộc châu Đại dương này là 15,5%, tương đương 15.176 USD.

Những thống kê thú vị về chuyện tiết kiệm tiền của người Australia - Ảnh 1.

Người Australia từ 8 đến 23 tuổi có số tiền tiết kiệm trung bình thấp nhất, ở mức 10.568 USD

Bà Hartge-Hazelman, chuyên gia của WGEA, cho biết: "Sự chênh lệch rất lớn về thu nhập ở những người từ 8 đến 23 tuổi có thể phản ánh thực tế là nam giới bắt đầu đi làm sớm hơn phụ nữ. Phái đẹp ưu tiên công việc học hành hơn, thay vì tập trung kiếm tiền sớm. Thế nên dù "nghèo" hơn, nhưng phụ nữ lại có khả năng sở hữu bằng cấp cao hơn đàn ông".

Thống kê của WGEA chỉ ra rằng, phụ nữ Australia chiếm 58,4% số lượng sinh viên học đại học. Mặc dù vậy, sau khi tốt nghiệp, mức lương khởi điểm ở bậc đại học của nam giới lại cao hơn nữ giới ở 16 trên 20 lĩnh vực nghiên cứu.

Mức lương khởi điểm của phụ nữ thấp hơn nam giới ở rất nhiều ngành nghề: nha khoa (23,5%), kiến trúc và môi trường xây dựng (12,2%), nghiên cứu nông nghiệp và môi trường (12,1%), dược (10,3%), luật và pháp lý (7,7%).

Bản quyền thuộc phunuvietnam.vn