Quy định về định đoạt tài sản chung của vợ chồng

08:51 | 13/02/2018;
Tôi lấy chồng được 2 năm, chúng tôi có một số tài sản chung nhưng chưa đăng ký quyền sở hữu. Vậy luật quy định thế nào về việc đăng ký, chiếm hữu, định đoạt tài sản chung của vợ chồng?
Hỏi: Tôi lấy chồng được 2 năm, chúng tôi có một số tài sản chung nhưng chưa đăng ký quyền sở hữu. Đề nghị Báo Phụ nữ Việt Nam cho biết, pháp luật quy định thế nào về việc đăng ký tài sản chung của vợ chồng cũng như các quyền đối với tài sản này?

                                                                                                Vũ Nguyễn Hải Anh (Cần Thơ)
tai-san1.jpg
Ảnh minh họa

Trả lời: Theo quy định tại Nghị định số 126/2014/NĐ-CP, quy định chi tiết một số điều của Luật Hôn nhân và Gia đình (HN & GĐ) 2014, thì:

Về  đăng ký tài sản chung của vợ chồng, Điều 12 quy định:

1. Tài sản chung của vợ chồng phải đăng ký theo quy định tại Điều 34 của Luật HN&GĐ (Điều 34 - Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác...) bao gồm quyền sử dụng đất, những tài sản khác mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sử dụng, quyền sở hữu.

2. Đối với tài sản chung của vợ chồng đã được đăng ký và ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì vợ, chồng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp đổi giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đất để ghi tên của cả vợ và chồng.

3. Trong trường hợp tài sản chung được chia trong thời kỳ hôn nhân mà trong giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi tên cả vợ và chồng thì bên được chia phần tài sản bằng hiện vật có quyền yêu cầu cơ quan đăng ký tài sản cấp lại giấy chứng nhận quyền sở hữu...

Về quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của vợ chồng, Điều 13 quy định: Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.

Trong trường hợp vợ hoặc chồng xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì được coi là có sự đồng ý của bên kia, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 35 của Luật HN&GĐ (Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:

a) Bất động sản;
b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;
c) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình).

Bản quyền thuộc phunuvietnam.vn