PNVN Lấy nhau từ nưm 1983 nhưng không có đăng ký kết hôn. Vừa rồi người chồng không may qua đời vì tai nạn giao thông. Vậy trường hợp không đăng ký kết hôn này có được công nhận là hôn nhân hợp pháp?

Hỏi: Tôi và chồng lấy nhau từ năm 1983 (có đám cưới nhưng không đăng ký kết hôn), khi đó tôi 18 tuổi, chồng 22 tuổi, hiện có 2 con chung. Cách đây mấy tháng, chồng tôi không may bị tai nạn qua đời. Tài sản chung của vợ chồng tôi có một căn nhà. Hiện nay, phía nhà chồng tôi muốn đuổi mẹ con tôi ra khỏi nhà vì cho rằng tôi không phải là vợ hợp pháp của con họ nên không có quyền chiếm giữ căn nhà. Xin Báo PNVN cho biết, pháp luật quy định thế nào về vấn đề này?

                                                                                                                       Lê Thị Hằng (Thanh Hóa)

chia-di-san-thua-ke-1011.jpg
Ảnh minh họa

Trả lời: Theo quy định tại mục 1 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC, hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000/QH10 về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình:

Trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 3/1/1987 (ngày Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực) mà chưa đăng ký kết hôn, nếu một bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn thì toà án thụ lý vụ án và áp dụng quy định về ly hôn của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết vụ án ly hôn theo thủ tục chung.

Cần chú ý là trong trường hợp sau khi quan hệ vợ chồng đã được xác lập họ mới thực hiện việc đăng ký kết hôn, quan hệ vợ chồng của họ vẫn được công nhận kể từ ngày xác lập (ngày họ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng), chứ không phải là chỉ được công nhận kể từ ngày đăng ký kết hôn.

Căn cứ vào quy định trên, vợ chồng chị lấy nhau và chung sống từ năm 1983, trước ngày Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực nên dù không đăng ký kết hôn, quan hệ hôn nhân vẫn được xác lập và công nhận kể từ thời điểm về chung sống với nhau.

Vì vậy, vợ chồng chị được pháp luật công nhận là hôn nhân thực tế, nên việc mẹ chồng chị cho rằng chị không phải là vợ hợp pháp của chồng chị là không đúng.

Do đó, khi chồng chị mất, căn nhà mà mẹ con chị đang ở được xác định là tài sản chung của vợ chồng và sẽ được định đoạt như sau: Tài sản chung sẽ được chia đôi và theo quy định của Bộ luật Dân sự, nếu chồng chị chết không để lại di chúc thì phần tài sản thuộc chồng chị sẽ được chia theo quy định của pháp luật.

Chị và các con đương nhiên thuộc hàng thừa kế thứ nhất và được chia một phần bằng với các đồng thừa kế khác.

Luật gia Nguyễn Tuấn