PNVN Chúng em đều làm kinh doanh nên có số tài sản riêng nhất định. Vì thế, khi chuẩn bị kết hôn, chúng em có ý định sẽ thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng theo kiểu "tiền ai nấy giữ". Vậy luật quy định như thế nào về vấn đề này?

Hỏi: Bọn em đang chuẩn bị kết hôn. Cả hai đứa bọn em đều làm kinh doanh, nên cũng có một số tài sản riêng nhất định. Vì vậy, chúng em đang có ý định sẽ thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng. Xin Báo PNVN cho biết, pháp luật quy định thế nào về vấn đề này? Thế nào bị coi là thỏa thuận trên vô hiệu?

                                                                                                       Nguyễn Thị Ngọc Lan (TPHCM)

122.jpg Thỏa thuận xác lập tài sản của vợ chồng trước khi kết hôn. Ảnh minh họa: Internet

Trả lời: Theo quy định tại Điều 47, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 về thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng, thì: Trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn.

Còn theo Điều 48 Luật này về nội dung cơ bản của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng, thì:

1. Nội dung cơ bản của thỏa thuận về chế độ tài sản bao gồm:

a) Tài sản được xác định là tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng;

b) Quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng và giao dịch có liên quan; tài sản để bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình;

c) Điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản;

d) Nội dung khác có liên quan.

2. Khi thực hiện chế độ tài sản theo thỏa thuận mà phát sinh những vấn đề chưa được vợ chồng thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng thì áp dụng quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này và quy định tương ứng của chế độ tài sản theo luật định.

Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu Điều 50 Luật này quy định:

Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Không tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại Bộ luật Dân sự và các luật khác có liên quan;

b) Vi phạm một trong các quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này;

c) Nội dung của thỏa thuận vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và thành viên khác của gia đình…

Luật gia Hà Vy