PNVN Trong một lần cãi nhau, người vợ nước ngoài liền đốt mất giấy chứng nhận kết hôn. Do cuộc sống tiếp tục nảy sinh mâu thuẫn, người chồng muốn ly hôn đơn phương khi không còn đăng ký kết hôn thì phải làm thủ tục gì?

Hỏi:  Năm 2008, Tôi lấy vợ người tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, kết hôn tại thành phố Lào Cai, sinh sống tại ngôi nhà của tôi do bố mẹ tôi cho tôi trước khi cưới (có hợp đồng tặng cho). Nhưng do khác biệt về văn hoá, lối sống lại không hiểu nhiều về tiếng Trung Quốc nên cuộc sống vợ chồng đã có nhiều mâu thuẫn, vợ chồng ly thân, tôi đã bỏ ra ngoài kinh doanh tự do. Trong một lần cãi cọ, vợ tôi đã lấy bản gốc Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn tiêu huỷ. Xin hỏi báo PNVN bây giờ tôi muốn làm thủ tục ly hôn đơn phương thì phải cần những giấy tờ gì và tại toà án nào? Nếu không có Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn bản gốc thì tôi có khởi kiện ra toà được không ?

Hoàng Thanh Hùng (TP. Lào Cai, tỉnh Lào Cai)

li-hon.jpg
 Ảnh minh họa.

Trả lời:

Do vợ anh là người nước ngoài nên vụ việc của anh được điều chỉnh bởi các quy định pháp luật liên quan đến yếu tố nước ngoài. Khoản 4 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 như sau:

“Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam hủy việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam theo quy định của Bộ luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam”. Do anh có hộ khẩu tại tỉnh Lào Cai, vợ anh là người tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, như vậy anh cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới là tỉnh Vân Nam. Do đó, Toà án có thẩm quyền giải quyết là TAND thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

Anh cần chuẩn bị bộ hồ sơ với các giấy tờ: Đơn xin ly hôn (theo mẫu của toà); Sổ hộ khẩu, chứng minh thư nhân dân (bản sao chứng thực); Giấy khai sinh của con (bản sao chứng thực - nếu anh chị đã có con chung); Các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh tài sản chung.

Trường hợp anh không còn bản gốc Giấy chứng nhận đăng kỳ kết hôn nữa thì anh phải đến cơ quan đã cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn của vợ chồng anh để xin cấp bản sao và nộp tại Toà án để toà thụ lý giải quyết. Theo quy định tại điều 63 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực từ ngày 01/01/2015 thì: “Nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng đã đưa vào sử dụng chung thì khi ly hôn vẫn thuộc sở hữu riêng của người đó; trường hợp vợ hoặc chồng có khó khăn về chỗ ở thì được quyền lưu cư trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác”. Như vậy, nếu vợ anh khó khăn về chỗ ở thì chị ấy có quyền lưu cư tại nhà anh trong thời hạn 06 tháng kể từ thời điểm anh chị ly hôn.

Luật sư, Trọng tài viên Hà Huy Từ, Công ty Luật Hà Huy

Thông tin chuyên mục có giá trị tham khảo, không dùng làm tài liệu trong tố tụng pháp luật. Chuyên mục được thực hiện với sự cộng tác của Công ty Luật Hà Huy - Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội.

lo-go-cty-ha-huy.jpg