Chuyện tình ngang trái của nàng công chúa nhà Trần

21:51 | 17/05/2017;
Đó là chuyện tình trắc trở, cảm động giữa Thiên Thụy công chúa và Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư - vị tướng tài ba của nhà Trần. Là một nhân vật đặc biệt nhưng sử sách ít ghi chép về bà.

Thiên Thụy công chúa là con vua Trần Thánh Tông và cung phi Vũ Thị Ngọc Lan, cũng là chị ruột của vua Trần Nhân Tông. Bà sinh vào khoảng những năm đầu thập niên thứ năm của thế kỷ XIII, tên thật là Trần Quỳnh Trân. Do được vua cha sắc phong là Thiên Thụy công chúa nên sử chép về bà đều chép là Thiên Thụy.

Chuyện kể rằng Quỳnh Trân xinh đẹp hiền dịu, rất được nhà vua yêu quý. Bấy giờ Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư là một viên tướng kiêu dũng trí lược nổi danh trong triều, được vua Trần Thánh Tông nhận làm con nuôi. Ông từng cầm quân đánh giặc thắng lớn nên được phong làm Phiêu kỵ Đại tướng quân - chức vụ thường được phong cho các hoàng tử.

Là con nuôi của vua nên Trần Khánh Dư thường được tự do ra vào cung cấm. Trước vẻ ung dung tự tại của ông, Quỳnh Trân vô cùng ngưỡng mộ. Dần dần, đôi trai tài gái sắc đó đã đến với nhau. Song thật trớ trêu, vua cha lại hứa gả Quỳnh Trân cho con trai Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn là Hưng Vũ vương Trần Quốc Nghiễn. Không thể cưỡng lệnh cha, Quỳnh Trân đành đi theo Hưng Vũ vương.

 Đền Mõ, ngôi đền nổi tiếng linh thiêng ở xã Ngũ Phúc, huyện Kiến Thụy, Hải Phòng, nơi thờ công chúa Quỳnh Trân.

Không dứt được tình, Trần Khánh Dư và Quỳnh Trân vẫn lén gặp nhau, rồi tình cảm giữa hai người bị phát giác. Sợ cha con Hưng Đạo vương tức giận nhưng lại thương chị gái, tiếc người tài, bấy giờ vua Trần Nhân Tông đã lên nối ngôi cha, vờ ban lệnh đánh chết Trần Khánh Dư rồi ngầm dặn không được đánh chết, sau đó xuống chiếu đoạt hết quan tước, tịch thu tài sản không để lại một chút gì. Trần Khánh Dư phải về nhà cũ của cha ở Chí Linh, ngày ngày đội nón lá mặc áo ngắn đi bán than, còn công chúa Quỳnh Trân phải về lại cung riêng.

Năm 1282, quân Nguyên lăm le xâm lược Đại Việt, vua Trần mở hội nghị ở Bình Than bàn kế chống giặc. Tại bến Bình Than, nhà vua bất chợt trông thấy Khánh Dư chèo chiếc thuyền lớn chở đầy than củi lướt qua. Đang cần tướng giỏi để cầm quân chống giặc, ngài mừng rỡ sai người triệu Khánh Dư đến, rồi cho theo xa giá về lại triều và phong ngay làm Phó đô tướng quân quản lãnh một cánh quân mạnh chuẩn bị chặn giặc.

Về lại Thăng Long, Khánh Dư và Quỳnh Trân lại có cơ hội gặp nhau. Trai anh hùng gái thuyền quyên, họ lại quấn quýt không rời, đến nỗi chính sử phải chép: “Rút cuộc Khánh Dư cũng không sửa được lỗi lầm cũ”.

Có lẽ sau đó để giữ thể diện cho hoàng gia, vua Trần Nhân Tông buộc lòng khuyên Quỳnh Trân xuất gia. Không còn cách nào khác, đầu năm 1284, công chúa Quỳnh Trân giã từ lầu son gác tía, đến với mảnh đất ven sông Văn Úc hoang sơ (nay là vùng ven biển Đồ Sơn), chọn một gò đất cao lập am tu hành. Từ đó Quỳnh Trân một lòng theo Phật, còn mối tình với Khánh Dư bà mãi mãi chôn chặt trong lòng.

 Bia ghi lại sự tích đền Mõ và cuộc đời công chúa Quỳnh Trân.

Tại nơi tu hành, bà lập điền trang trồng cấy lương thực, mở chợ cho dân buôn bán, quy tụ dân trong vùng đến làm ăn sinh sống, hình thành nên trang Nghi Dương (nay là xã Ngũ Phúc, huyện Kiến Thụy, Hải Phòng). Cái am nhỏ dần được bà dựng thành chùa, đêm ngày bà chuyên tâm gõ mõ tụng kinh niệm Phật, dân quanh vùng quen với tiếng mõ của bà, từ đó gọi ngôi chùa với cái tên mộc mạc là chùa Mõ.

Trong thời gian tu hành, bà thường cứu cấp chẩn bần, đem kiến thức của mình giáo hóa nhân dân, khuyến khích dân khai khẩn đất hoang, phát triển nông tang, lập thêm làng xóm. Có năm bị thiên tai mất mùa, bà xin vua miễn thuế cho năm xã trong vùng, dân rất nhớ ơn. Sau bà trở thành ni sư nổi tiếng, được tôn gọi là Thiền Đức đại ni.

Theo sách Nam ông mộng lục của Hồ Nguyên Trừng, năm 1308, bà ốm nặng, Thượng hoàng Trần Nhân Tông bấy giờ là Trúc Lâm đại sĩ, đang tu trên núi Yên Tử hạ sơn đến thăm chị gái. Trước lúc ra về, ngài ngậm ngùi cầm tay bà nói: “Nếu chị đã đến ngày đến giờ thì cứ đi, âm phủ có hỏi thì bảo rằng, xin đợi một chút, em tôi là Trúc Lâm đại sĩ sẽ tới ngay”. Ngày mồng 3 tháng 11 năm đó bà mất. Quả nhiên cùng ngày hôm đó Thượng hoàng Nhân Tông cũng băng hà. Trần Nhân Tông là em ruột, lại là người chứng kiến cũng như xử lý toàn bộ chuyện tình ngang trái của công chúa Quỳnh Trân nên đã rất hiểu và vô cùng thương người chị gái đa đoan của mình. Cuộc viếng thăm của ông trước khi bà ra đi có lẽ là lời tạ lỗi của đức vua với người chị gái tội nghiệp.

Sau khi bà viên tịch, dân trong vùng cảm công đức của bà đã lập đền thờ ngay tại nơi bà tu hành, tôn bà làm phúc thần, ngôi đền cũng được gọi bằng cái tên rất dân gian là đền Mõ. Bà được các triều đại bao phong là Ả nương Thiên Đức Quỳnh Trân công chúa.

 Cây gạo đền Mõ, tương truyền do công chúa Quỳnh Trân trồng đã hơn 700 tuổi.

Tương truyền, trong những tháng ngày tu hành ở chùa Mõ, công chúa Quỳnh Trân đã trồng một cây gạo với ước nguyện cho khắp vùng khi nào cũng dồi dào thóc gạo. Cho đến nay, trải bao vật đổi sao dời, cây gạo vẫn xanh tốt, trổ hoa đỏ rực mỗi cuối xuân.

Năm 2011, cây gạo tương truyền do Quỳnh Trân công chúa trồng tại đền Mõ năm 1284 tròn 723 tuổi, được Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam công nhận là Cây di sản Việt Nam.

Bản quyền thuộc phunuvietnam.vn