Miền núi phía Bắc có tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thấp còi cao nhất cả nước

12:10 | 28/12/2023;
Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, khi tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ dưới 5 tuổi chênh lệch mạnh giữa các vùng miền. Theo đó, tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi trẻ dưới 5 tuổi vùng miền núi phía Bắc là cao nhất (37,4%), sau đó là Tây nguyên (28,8%).

Vừa qua, Viện Dinh dưỡng Quốc gia (Bộ Y tế) tổ chức Hội thảo về "Vận động, đầu tư và tăng cường phối hợp liên ngành cho hoạt động của Chiến lược Quốc gia Dinh dưỡng".

Thông tin tại Hội thảo cho biết, hiện nay, nước ta đã cơ bản đạt được các mục tiêu về giảm tình trạng thiếu dinh dưỡng ở bà mẹ, trẻ em, tuy nhiên vẫn phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức. Cụ thể là sự chênh lệch về tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ dưới 5 tuổi giữa các vùng miền còn cao. Tình trạng thừa cân, béo phì - đặc biệt là ở trẻ em tuổi học đường và người dân ở khu vực thành thị tiếp tục tăng nhanh. Tỷ lệ phụ nữ có thai, trẻ dưới 5 tuổi và phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ bị thiếu vi chất dinh dưỡng vẫn còn cao.

Miền núi phía Bắc có tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thấp còi cao nhất cả nước- Ảnh 1.

Tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng (đặc biệt là tình trạng thiếu kẽm, thiếu máu) ở phụ nữ có thai, trẻ dưới 5 tuổi và phụ nữ tuổi sinh đẻ còn ở mức cao

Trong những năm qua, Ngành Y tế đã tích cực phối hợp với các Bộ, ban, ngành liên quan và các địa phương triển khai có hiệu quả việc cải thiện tình trạng dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe người dân và đã đạt được những kết quả quan trọng. Việt Nam là điểm sáng về thực hiện các mục tiêu Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc sức khỏe và nâng cao sức khỏe nhân dân nói chung, cũng như cải thiện tình trạng dinh dưỡng của người dân nói riêng. Việt Nam đã cơ bản đạt được các mục tiêu về giảm tình trạng thiếu dinh dưỡng ở bà mẹ, trẻ em (giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng nhẹ cân, suy dinh dưỡng thấp còi, tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn ở phụ nữ lứa tuổi sinh đẻ, cơ bản khống chế tỷ lệ thừa cân béo phì ở trẻ em dưới 5 tuổi, cải thiện chiều cao trung bình của trẻ em và chiều cao đạt được của thanh niên, cải thiện các chỉ số thực hành về nuôi dưỡng trẻ nhỏ.

Những khó khăn, thách thức về dinh dưỡng hiện nay

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trương Tuyết Mai, Phó Viện trưởng Dinh dưỡng Quốc gia, mặc dù tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em đã giảm mạnh trong những năm qua, nhưng vẫn còn chênh lệch vùng miền, đặc biệt là tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ dưới 5 tuổi. 

Sự gia tăng nhanh chóng của trạng thừa cân béo phì, đặc biệt là ở trẻ em tuổi học đường và người dân sống ở vùng thành thị. 

Tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng (đặc biệt là tình trạng thiếu kẽm, thiếu máu) ở phụ nữ có thai, trẻ dưới 5 tuổi và phụ nữ tuổi sinh đẻ còn ở mức cao. 

Còn nhiều yếu tố nguy cơ làm gia tăng tình trạng rối loạn chuyển hóa, nguy cơ mắc bệnh mạn tính không lây có liên quan đến dinh dưỡng, như tiêu thụ ít rau, lối sống tĩnh tại ít vận động, tiêu thụ nhiều các loại thức ăn nhanh, thức ăn chứa nhiều đường tự do, nhiều muối....

Theo kết quả Tổng điều tra Dinh dưỡng cho thấy tình trạng suy dinh dưỡng thấp còi của trẻ dưới 5 tuổi (chiều cao/tuổi) đang giảm dần, từ năm 2010 đến năm 2020, tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi toàn quốc giảm từ 29,3% xuống 19,6%; giảm dưới 18,9% vào năm 2022. Tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ học đường (5-19 tuổi) vẫn còn ở mức 14,8%. 

Tuy nhiên, tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em có sự khác biệt lớn giữa các vùng, miền, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi vẫn có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao so với trung bình cả nước nhất là vùng Trung du và miền núi phía Bắc và Tây Nguyên.

Trong đó tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi trẻ dưới 5 tuổi vùng miền núi phía Bắc là cao nhất (37,4%), sau đó là vùng Tây nguyên (28,8%). 

Tỷ lệ thể thấp còi ở trẻ em là người dân tộc thiểu số (31,4%) vẫn cao gấp 2 lần so với nhóm trẻ em là người Kinh (15,0%) đồng thời tỷ lệ trẻ em là người dân tộc thiểu số nhẹ cân cũng lớn hơn gấp 2,5 lần (21% so với 8,5%) so với trẻ em là người Kinh. Tình trạng thiếu Vitamin A, thiếu máu thiếu sắt và thiếu kẽm vẫn là các vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng. 

Theo điều tra của Viện Dinh dưỡng đến 2020, tỷ lệ thiếu máu ở trẻ em dưới 5 tuổi ở Việt Nam là 19,6%. Tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ có thai và không có thai tương ứng 25,6% và 16,2%. Tỷ lệ thiếu Vitamin A tiền lâm sàng ở trẻ em dưới 5 tuổi là 9,5%. Tỷ lệ vitamin A trong sữa mẹ thấp là 18,3%. Tỷ lệ thiếu kẽm đặc biệt rất cao ở trẻ dưới 5 tuổi là 58% năm 2020; phụ nữ có thai là 63,5%. Tỷ lệ thừa cân béo phì đang gia tăng nhanh chóng, ở tất cả các lớp tuổi và ở tất cả các khu vực thành thị cũng như nông thôn. Thừa cân béo phì ở trẻ dưới 5 tuổi là 7.4% (9.8% ở thành thị, 5.3% ở nông thôn) và 19% ở trẻ em lứa tuổi học đường. Kèm theo đó là hệ lụy gia tăng tỷ lệ thừa cân béo phì và các bệnh không lây nhiễm ở người trưởng thành. Tỷ lệ người trưởng thành thừa cân béo phì là 15,6% và tiếp tục gia tăng 19,0% vào năm 2020.

Theo Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc và Ngân hàng Thế giới, chỉ cần đầu tư 1 USD chi phí dinh dưỡng cho trẻ trong 1.000 ngày đầu đời thì tương lai sẽ thu lại được 18 USD; trẻ em được điều trị khỏi thấp còi có khả năng thoát khỏi đói nghèo tới 33% khi trưởng thành, góp phần cho tăng trưởng GDP quốc gia từ 3-10%.

Để thực hiện thành công các chỉ tiêu, mục tiêu của Chiến lược Quốc gia về Dinh dưỡng đến năm 2030 một cách bền vững, các đại biểu cho rằng, cần tiếp tục huy động các cấp các ngành, tổ chức quốc tế, xã hội và người dân đầu tư về cả về chính sách và nguồn lực nhằm thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp cho dinh dưỡng; cần đưa dinh dưỡng vào luật phòng bệnh và được chi trả bảo hiểm y tế; xây dựng tiêu chuẩn chức danh dinh dưỡng tại cộng đồng; nhãn cảnh báo, thực thi hiệu quả các chính sách hiện có.

Bên cạnh đó, cần nâng cao năng lực, đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng cán bộ làm công tác dinh dưỡng; tiếp tục giảm sự chênh lệch vùng miền, dân tộc về tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ dưới 5 tuổi; cải thiện tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng (đặc biệt là tình trạng thiếu kẽm, thiếu máu) ở phụ nữ có thai, trẻ dưới 5 tuổi và phụ nữ tuổi sinh đẻ.

Các đại biểu cho rằng cần tập trung hơn nữa để kiểm soát tình trạng thừa cân béo phì trẻ 5 - 19 tuổi và người trưởng thành vùng thành phố, thành thị... Đẩy mạnh hoạt động dinh dưỡng học đường, ngành nghề đặc thù, người cao tuổi, nữ vị thành niên, dinh dưỡng tiết chế bệnh viện. Cùng với đó, thực hiện nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ về dinh dưỡng, thực phẩm phù hợp cho người Việt Nam; tăng cường phối hợp liên ngành cho hoạt động dinh dưỡng từ Trung ương đến tỉnh, huyện, xã.


Bản quyền thuộc phunuvietnam.vn