Cảm thức thời gian trong âm nhạc Văn Cao

TS Đỗ Anh Vũ
15/11/2023 - 12:29
Cảm thức thời gian trong âm nhạc Văn Cao

Cố nhạc sĩ Văn Cao (1923-1995)

Chỉ đứng từ những cảm thức thời gian với mùa xuân và mùa thu, ta cũng thấy được một gương mặt âm nhạc Văn Cao với nhiều biến chuyển đa dạng, gắn với những đổi thay lớn lao trong lịch sử dân tộc, đồng thời gửi gắm những tư tưởng mang đầy tính nhân văn của người nhạc sĩ.

Mùa thu

Cảm xúc u hoài về mùa thu được nối dài từ thơ ca cổ điển cho tới Thơ mới lãng mạn, nó cũng phản ánh không khí thời đại và tâm trạng con người trước bối cảnh nước nhà còn chìm đắm trong ách cai trị của ngoại bang. Thế nên, ta không lạ khi mùa thu đi vào trong khá nhiều ca khúc của Văn Cao trước 1945 với các mức độ khác nhau của nỗi buồn. Buồn tàn thu (1939) là ca khúc được công bố sớm nhất của ông. Được ký âm ở giọng Rê thứ với một nhịp điệu chậm, bài hát mang đến một không khí tê tái, bi thương não nùng: "Đếm mùa thu chết, nghe mùa đang rớt rơi theo lá vàng...".

Sau Buồn tàn thu, Suối mơ là một ca khúc nổi tiếng cũng gắn với mùa thu được viết với nhịp điệu êm ái, trong sáng. Nỗi buồn ở bài này không quá bi thương như Buồn tàn thu mà man mác, nhẹ nhàng, như một hoài niệm về mối tình đã qua: "Suối mơ! Bên rừng thu vắng, dòng nước trôi lững lờ ngoài nắng. Ngày chưa đi sao gió vương...".

Trong một tình khúc nổi tiếng khác – Trương Chi, mùa thu cũng được chọn làm thời gian nghệ thuật chung cho toàn bộ nhạc phẩm: "Vương vất heo may hoa yến mong chờ/Ôi tiếng cầm ca thu tới bao giờ/Lòng chiều bơ vơ lúc thu vừa sang...". Hay Thu cô liêu, cũng mang một nỗi buồn man mác: "Thu cô liêu tịch liêu/Cô thôn chiều, ta yêu thu yêu thu yêu mùa thu...".

Sau 1945, Văn Cao viết về mùa thu với tâm thế hoàn toàn khác. Trong bản Trường ca Sông Lô sáng tác năm 1948, mùa thu xuất hiện ngay từ đầu nhạc phẩm với âm hưởng khoáng đạt, bay bổng, tráng ca và nhịp điệu phát triển nhanh dần trong những đoạn kế tiếp, càng ngày càng tươi vui: "Thu ru bến sóng vàng từng nhà mờ biếc chìm một màu khói thu (…) Sông gầm âm vang súng trái phá. Bao rừng thu như bát ngát cười"…

Mùa xuân

Trước 1945, mùa xuân trong ca khúc Văn Cao cũng thường buồn. Mùa xuân trong bài Cung đàn xưa được viết ở nhịp Valse với điệu thức trưởng khiến bản nhạc dù buồn bã mà vẫn tạo được cảm giác trong sáng và sang trọng: "Hồn cầm phong hương hình bóng xuân tàn. Ngày dần buông trôi sầu vắng cung đàn… Chiều năm xưa gót hài khai hoa mắt huyền lưu xuân dáng hồng thơm hương".

Trong một ca khúc khác, mùa xuân là một chi tiết của tác phẩm và nhịp điệu của ca khúc được viết theo phong cách blues nên tạo được những nét nhạc sáng và không rơi vào bi lụy: "Tới đây chim thấy lòng ngập ngừng. Nhớ ai trên mấy đồi Yên Thế. Kìa nước xa xa sông Cấm còn mịt mùng ngoài bến xuân" (Đàn chim Việt). Thực ra Đàn chim Việt là phiên bản hai của ca khúc Bến xuân, được công bố lần đầu năm 1942. Nếu như ca từ của Đàn chim Việt thiên về tình cảm quê hương thì ca từ của Bến xuân thiên về tình yêu đôi lứa, một tình yêu thật đẹp mà nay chỉ còn trong hoài niệm: "Mắt em như dáng thuyền soi nước. Tà áo em rung trong gió nhẹ thẹn thùng ngoài bến xuân…".

Hình ảnh chương trình nghệ thuật "Đàn chim Việt" kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhạc sĩ Văn Cao được tổ chức tại Nhà hát Lớn Hà Nội

Hình ảnh chương trình nghệ thuật "Đàn chim Việt" kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhạc sĩ Văn Cao được tổ chức tại Nhà hát Lớn Hà Nội

Sau 1945, mùa xuân trong ca khúc Văn Cao đầy khỏe khoắn, tươi sáng, rộng mở. Trong bản Trường ca Sông Lô nổi tiếng, thời gian nghệ thuật của nhạc phẩm được mở ra bằng mùa thu và kết thúc bằng mùa xuân, như muốn diễn tả một sức sống bất diệt của thiên nhiên và con người Tây Bắc, cũng là sức sống bất diệt của cả dân tộc Việt Nam: "Mùa xuân tới, nước băng qua ngàn nước in ven bờ xanh in bóng tre".

Tiến về Hà Nội là ca khúc mang đầy tính dự báo thiên tài của Văn Cao, được viết từ 1949, 5 năm trước khi Hà Nội hoàn toàn giải phóng. Nhịp điệu nhanh, lôi cuốn như một hành khúc được khép lại tác phẩm với những ca từ đầy ắp mùa xuân, mùa xuân của một bước chuyển mình lịch sử, mùa xuân của chiến thắng huy hoàng: "Những bông hoa ngày mai đón tương lai vào tay, những xuân đời mỉm cười vui hát lên. Khi đoàn quân tiến về là đêm tan dần. Như mùa xuân xuống cành, đường nghe gió về, Hà Nội bừng Tiến quân ca".

Cũng trong năm 1949, có một ca khúc đặc biệt của Văn Cao có sự hiện diện của cả mùa thu và mùa xuân với một cảm xúc trong trẻo tin yêu lạ thường. Đó là bài Ca ngợi Hồ Chủ tịch, một trong những ca khúc hay nhất về Bác Hồ kính yêu: "Người về mang tới ngày vui. Mùa thu nắng tỏa Ba Đình với tiếng Người còn dịu dàng hơn tiếng đất trời...".

Do những biến cố éo le và ngang trái của lịch sử mà Văn Cao đã tuyên bố gác bút, không viết thêm bất cứ một ca khúc nào trong vòng 20 năm. Mãi cho đến năm 1976, trong mùa xuân thống nhất đầu tiên của dân tộc, ông mới sáng tác trở lại và tặng cho cuộc đời một nhạc phẩm xuất sắc: ca khúc Mùa xuân đầu tiên. Theo lời tâm sự của Văn Cao, nếu như Tiến quân ca là bản nhạc đưa những người lính ra trận thì Mùa xuân đầu tiên là bản nhạc đón những người lính trở về trong một khát vọng sum họp và đoàn tụ. Cao hơn nữa, ca khúc còn gửi gắm một tư tưởng lớn về hòa hợp dân tộc, tôn vinh một hạnh phúc giản dị và đời thường của hòa bình.

Mùa xuân đầu tiên được viết theo điệu valse, một điệu thức trước đó nhiều lần được Văn Cao sử dụng qua các nhạc phẩm như Cung đàn xưa hay Ngày mùa. Nhưng với bản valse mùa xuân này, tưởng như đây là một điệu luân vũ dặt dìu bất tận trong niềm hạnh phúc khôn nguôi, khi những giọt nước mắt lặng lẽ rơi xuống nghẹn ngào trong cả người nghe, người hát và chính người sáng tác: "Nước mắt trên vai anh, giọt rơi ấm đôi vai anh. Niềm vui phút giây như đang long lanh". Xóa bỏ thù hận, chỉ còn lại yêu thương, tin cậy và cùng nhau hướng về tương lai. Một tư tưởng sâu sắc được viết ra bằng những lời ca giản dị mà lay động lòng người: "Từ đây người biết quê người. Từ đây người biết thương người. Từ đây người biết yêu người".

Mùa xuân đầu tiên cũng có thể xem là ca khúc nổi tiếng cuối cùng trong sự nghiệp sáng tác của Văn Cao, dù sau đó ông có viết thêm hai bài: Hành khúc công nhân toa xe (1983) và Tình khúc trung du (1984).

Nhìn lại sự nghiệp sáng tác của Văn Cao, số lượng ca khúc của ông chỉ độ trên 30 tác phẩm nhưng dấu ấn của ông để lại là vô cùng to lớn. Chỉ đứng từ những cảm thức thời gian với mùa xuân và mùa thu, ta cũng thấy được một gương mặt âm nhạc Văn Cao với nhiều biến chuyển đa dạng, phong phú, gắn với những đổi thay lớn lao trong lịch sử dân tộc đồng thời gửi gắm những tư tưởng mang đầy tính nhân văn của người nhạc sĩ.

Nhạc sĩ Văn Cao sinh ngày 15/11/1923, mất ngày 10/7/1995, là tác giả của Tiến quân ca – bài hát được chọn làm Quốc ca nước ta. Ông đã được trao tặng và truy tặng nhiều huân huy chương, giải thưởng cao quý: Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật đợt 1, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Ðộc lập hạng Nhất, Huân chương Ðộc lập hạng Ba...

Ý kiến của bạn
(*) Nội dung bắt buộc cần có
0 bình luận
Xem thêm bình luận

Nhập thông tin của bạn

Đọc thêm