Chuyện đời "nàng thơ" của thi sĩ Nguyễn Đức Sơn
Vợ chồng thi sĩ Nguyễn Đức Sơn - Nguyễn Thị Phượng thời mới cưới. Ảnh tư liệu gia đình
Người phụ nữ đi bên đời của thi sĩ Nguyễn Đức Sơn còn đặc biệt hơn cả Sơn Núi, bởi nhan sắc, sự dũng cảm cùng tình yêu son sắt của bà.
Thi sĩ Nguyễn Đức Sơn, dân văn nghệ thường gọi là Sơn Núi, còn có bút hiệu là Sao Trên Rừng. Tài năng và cuộc sống khác biệt của ông được chú ý, gắn liền cùng người phụ nữ đã sắt son cả cuộc đời cùng ông. Đó là bà Nguyễn Thị Phượng, người đi cùng thi sĩ, bỏ phố lên rừng.

Bà Nguyễn Thị Phượng, vợ của thi sĩ Nguyễn Đức Sơn, thời trẻ. Ảnh tư liệu gia đình
Trong bài viết của nhà báo Nguyễn Lam Điền đăng trên báo Tuổi Trẻ đã từng nhận định: "Nguyễn Đức Sơn nổi lên như một nhà thơ đầy cá tính tại Sài Gòn với tập thơ Bọt Nước in năm 1965. Sau đó, tên tuổi ông vang khắp miền Nam như một cây bút kỳ tài không chỉ ở ý tứ cả thơ và truyện, mà cung cách chơi đùa với ngôn ngữ tiếng Việt, ý thức dùng diễn ngôn dâm tục để chuyển tải triết lý nhân sinh, cảm thán về thời cuộc và cả thái độ trước tình người, tình đời...". Thi sĩ Nguyễn Đức Sơn mang bạo bệnh và đã mất vào năm 2020.
Nguyễn Đức Sơn vốn là một giáo sư dạy Anh văn. Trong một cơ duyên gặp nhau, ông đã si mê "nàng thơ" tên Nguyễn Thị Phượng, khi nàng mới 17 tuổi. Nguyễn Thị Phượng sinh ra trong hoàn cảnh rất đặc trưng thời trước: cha là quan chức người Pháp, mẹ tham gia Việt Minh. Phượng là cháu ruột gọi Hòa thượng Thích Trì Bổn bằng cậu, nên từ nhỏ đã được theo học tại trường Bồ Đề của chùa Tây Tạng.
Mối tình sét đánh và si mê giữa thi sĩ - giáo sư dạy Anh văn Nguyễn Đức Sơn và nàng thơ Nguyễn Thị Phượng đã kết thúc bằng một đám cưới năm 1967. Đám cưới được tổ chức tại chùa Tây Tạng, (Thủ Dầu Một - Bình Dương cũ).

Một trong những bài thơ được thi sĩ Nguyễn Đức Sơn viết tặng vợ như món quà cưới trong tập "Nguyệt động thơ"
Năm 1975, thi sĩ Nguyễn Đức Sơn đưa vợ và các con lên giữa rừng núi Bảo Lộc sinh sống, mặc cho nhiều lời can ngăn của gia đình và bạn bè. Ngày đó, sống ở giữa rừng còn bao nhiêu thiếu thốn, khổ cực, không điện, thiếu nước, nơi ở hoang vu, nhiều bạn bè nói sự chọn lựa của Nguyễn Đức Sơn đã khiến vợ con của ông phải chịu bao vất vả. Cả gia đình tồn tại qua ngày bằng cách nhặt củi khô mang xuống dưới đường đổi được chút gạo ăn. Rau rừng thì hái xung quanh nhà.
Biến cố lớn đến với đôi vợ chồng khi cậu con trai 12 tuổi của họ ăn phải nấm độc trong rừng và qua đời. Dù vậy, thi sĩ Nguyễn Đức Sơn vẫn quyết cùng vợ con ở lại trong rừng, tự tạo đường mòn đi, cuộc sống gắn liền với thiên nhiên.
Xưa kia, nơi đây từng là Phương Bối Am do Thiền sư Thích Nhất Hạnh dựng lên làm nơi tu học và tĩnh cư. Về sau, Phương Bối Am dần bị bỏ hoang theo biến động thời cuộc.
Từ khi gia đình thi sĩ Nguyễn Đức Sơn về sinh sống, khai hoang và trồng lại những cánh rừng thông trên vùng đất này, người dân quanh vùng nhiều thập niên quen gọi nơi đây là “đồi thông Sơn Núi”, gắn với biệt danh Sơn Núi của thi sĩ Nguyễn Đức Sơn.
Đến khoảng năm 2014, khi thi sĩ Nguyễn Đức Sơn tuổi đã cao và sức khỏe suy yếu, con trai của ông, Thích Ngộ Chánh, đi học trở về phụ cha mẹ tiếp quản khu đồi. Với mong muốn kết nối dấu ấn của bậc tiền nhân đi trước là Thiền sư Thích Nhất Hạnh và thế hệ tiếp nối là thi sĩ Nguyễn Đức Sơn, ông đã đặt tên nơi này là “Đồi Thông Phương Bối”.
Tên gọi ấy vừa giữ lại ký ức của “Phương Bối” - một địa danh gắn với hành trạng của Thiền sư Thích Nhất Hạnh - vừa gợi lên hình ảnh rừng thông mà gia đình thi sĩ Nguyễn Đức Sơn đã dày công gìn giữ suốt nhiều năm.
Từ đó, “Đồi Thông Phương Bối” không chỉ là tên một khu đồi, mà còn trở thành một biểu tượng cho tinh thần bảo tồn thiên nhiên, ký ức văn hóa và di sản tinh thần của vùng đất này.

Tình yêu của bà với người chồng thi sĩ khi cùng vào rừng sinh sống đã trở thành câu chuyện đặc biệt của dân văn nghệ miền Nam
Bà Nguyễn Thị Phượng, khi theo chồng lên Đồi Thông Phương Bối, chỉ mới ngoài 20 tuổi. Bà vừa nuôi con, làm rẫy, gánh nước, chăm chồng giữa núi rừng thiếu thốn.
Trong mắt các con, bà là người mẹ hiền lành, nhẫn nhịn, giàu đức hy sinh và sống hết lòng vì gia đình. Con trai của ông bà, tu sĩ Thích Ngộ Chánh cho biết, nếu thi sĩ Nguyễn Đức Sơn có phần dữ dội và nổi loạn, thì bà Phượng chính là người âm thầm giữ sự yên lành cho gia đình tồn tại suốt bao tháng năm gian khó.

Bà Phượng vẫn cùng các con ở tại Đồi Thông Phương Bối để đón các văn nhân thi sĩ tới chơi
Cuộc sống về sau này dần ổn định hơn, Đồi Thông Phương Bối được nhiều người biết đến và đóng góp để làm đường và xây dựng, nhưng bà Phượng vẫn giữ nếp sống giản dị và âm thầm như cũ. Bà và các con đều ăn chay trường.
Khi hỏi chuyện, bà không nhắc tới sự hối tiếc khi bỏ mọi thứ vật chất ở thành phố để theo chồng đi lên sinh sống giữa rừng rậm bạt ngàn. Các con bà nói, việc bà gắn bó với Đồng Thông Phương Bối suốt gần cả cuộc đời, dù trải qua bao vất vả và mất mát, có lẽ đã là câu trả lời rõ ràng nhất cho lựa chọn.
Kể chuyện về mẹ, các con của bà cho rằng, đều được thấm nhất từ mẹ là lòng từ bi. Thích Ngộ Chánh kể rằng khi còn nhỏ theo mẹ đi bán trà và đi chợ, thấy người tàn tật xin ăn, bà đã đưa cho con trai ít tiền rồi dặn: "Con hãy chia sẻ với họ".
Vợ chồng thi sĩ Nguyễn Đức Sơn có 9 người con, 7 trai 2 gái; người con trai mất khi 12 tuổi, còn lại 8 người con đều hiện có cuộc sống ổn định, ở TPHCM và quanh Đồi Thông Phương Bối, thuộc Bảo Lộc, Lâm Đồng.
Tác phẩm của Nguyễn Đức Sơn xuất bản hầu hết trước năm 1975, về thơ có: Bọt nước (1965), Hoa cô độc (1965), Lời ru (1966), Đêm nguyệt động (1967), Vọng (1972), Mộng du trên đỉnh mùa xuân (1972), Tịnh khẩu (1973), Du sĩ ca (1973) và 3 tập truyện: Cát bụi mệt mỏi (1968), Cái chuồng khỉ (1969), Xóm chuồng ngựa (1971); cùng rất nhiều tác phẩm ở dạng bản thảo chưa in gồm tạp văn, thơ, truyện ngắn, truyện dài và phóng bút. Tập thơ Chút lời mênh mông (NXB Đà Nẵng 2020) được xem là ấn phẩm cuối cùng của thi sĩ.