Đại biểu Vũ Văn Tiến: Khơi thông phát triển kinh tế biển, kiểm soát rủi ro
Đại biểu Vũ Văn Tiến (Đoàn ĐBQH TP Hải Phòng)
Sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo cần mở ra những cơ chế mới, khơi thông nguồn lực phát triển kinh tế biển và phải kiểm soát những rủi ro.
Phát biểu góp ý dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) của Tổ 3 sáng 24/10, Đại biểu Vũ Văn Tiến (Đoàn ĐBQH TP Hải Phòng) nhấn mạnh, Việt Nam là quốc gia tiềm năng rất lớn về kinh tế, tài nguyên, phát triển không gian biển, và với hàng triệu người dân ven biển. Biển còn là nơi mưu sinh, gắn với cuộc sống và sinh kế của biết bao thế hệ.
Vì vậy, sửa đổi Luật lần này không chỉ cần mở ra những cơ chế mới, khơi thông nguồn lực phát triển kinh tế biển, mà còn phải lường trước và kiểm soát được những rủi ro có thể phát sinh. Làm sao để người dân được bảo đảm quyền lợi, doanh nghiệp có điều kiện đầu tư, khai thác hiệu quả, đất nước giữ được lợi ích lâu dài.
Đại biểu Vũ Văn Tiến (Đoàn ĐBQH TP Hải Phòng)
Đại biểu Vũ Văn Tiến đã trao đổi thêm hai vấn đề mà theo ông cần được cân nhắc kỹ hơn trong quá trình hoàn thiện Luật.
Thứ nhất, về quyền tiếp cận biển của người dân và hành lang bảo vệ bờ biển. Theo đại biểu, nhìn lại việc thực hiện các quy định về hành lang bảo vệ bờ biển đang diễn ra thực tế: 21 địa phương đã phê duyệt danh mục khu vực phải thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển, nhưng mới có 13 địa phương thực hiện cắm mốc giới. Tổng chiều dài hành lang được thiết lập cũng mới đạt khoảng 50% chiều dài bờ biển. Vấn đề này không mới, không còn là nguy cơ mà tranh chấp đã xảy ra khi quyền lợi của người dân đối lập với lợi ích của doanh nghiệp, dẫn đến khó khăn khi phải xử lý, giải quyết các công trình đã xây dựng.
Nhấn mạnh “không thể cứ mãi mất bò mới lo làm chuồng được”, đại biểu Vũ Văn Tiến đề nghị quy định ngay trong Luật quy định về trách nhiệm tổ chức thực hiện quyền tiếp cận biển của người dân.
Trong đó, theo đại biểu, cần làm rõ thời hạn xác định, công bố và cắm mốc hành lang bảo vệ bờ biển; cơ chế công khai các lối tiếp cận biển để người dân giám sát; trách nhiệm của cơ quan quản lý khi chậm triển khai hoặc để xảy ra tình trạng lấn chiếm, cản trở lối đi công cộng.
Đồng thời, cần quy định rõ hơn về nguồn lực thực hiện và nguyên tắc xử lý các dự án, công trình hiện hữu, bảo đảm quyền tiếp cận biển của cộng đồng nhưng cũng không làm ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của doanh nghiệp đã đầu tư đúng pháp luật.
Thứ hai, về cơ chế tài chính trong khai thác, sử dụng khu vực biển. Một vấn đề cần được xem xét kỹ hơn là việc xác định tiền sử dụng biển. Khi quyền sử dụng khu vực biển có thể chuyển nhượng, thế chấp, góp vốn thì câu chuyện định giá, thu bao nhiêu và thu như thế nào phải được tính toán thận trọng.
Đại biểu đánh giá, dự thảo đã đưa ra những căn cứ để xác định tiền sử dụng biển, nhưng các nguyên tắc định giá, cơ chế thẩm định, quyết định giá vẫn cần được làm rõ hơn. Bởi cùng một diện tích biển, nhưng nơi có thể phát triển điện gió ngoài khơi, nơi phù hợp nuôi trồng thủy sản, nơi lại có lợi thế làm du lịch. Mỗi nơi một điều kiện, một khả năng sinh lợi, mức độ tác động đến môi trường là khác. Nếu không tính toán kỹ, rất khó có được mức thu vừa hợp lý, vừa công bằng.
“Giá thấp quá thì Nhà nước thất thu. Nhưng giá cao quá, doanh nghiệp không mặn mà đầu tư. Như vậy, thu ít quá thì nhà nước thiệt, nhưng đặt mức thu cao đến mức doanh nghiệp không làm nổi, bỏ cuộc thì cuối cùng cũng không ai được hưởng lợi. Hơn nữa, nếu nguyên tắc định giá không rõ ràng, thiếu minh bạch, mỗi nơi áp dụng một kiểu thì không chỉ gây khó cho doanh nghiệp mà còn dễ tạo ra kẽ hở trong quản lý, thậm chí làm thất thoát nguồn lực quốc gia”, đại biểu Vũ Văn Tiến nhấn mạnh.
Ông cho rằng, cần đánh giá kỹ tác động của các phương án tính tiền sử dụng biển đối với từng loại hình khai thác; làm rõ nguyên tắc định giá, thẩm quyền quyết định, cơ chế thẩm định, công khai và giám sát, tránh tình trạng cùng một chính sách nhưng mỗi nơi thực hiện một kiểu.
Đại biểu Vũ Văn Tiến đề nghị tiếp tục nghiên cứu, đánh giá tác động và nghiên cứu hoàn thiện nhóm quy định nêu trên, để Luật thực sự tháo gỡ được những bất cập, khơi thông nguồn lực phát triển, giữ được giá trị lâu dài của tài nguyên quốc gia.