Dữ liệu thống kê về giới - Cơ sở cốt yếu để đề xuất chính sách
Một biểu đồ dữ liệu thống kê - NGUỒN: CỤC THỐNG KÊ
Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh chuyển đổi số và hướng tới các mục tiêu phát triển bền vững, việc lồng ghép giới vào chính sách công không còn là lựa chọn mà là yêu cầu bắt buộc. Để hiểu rõ hơn về vai trò của dữ liệu giới đối với các quyết định phân bổ ngân sách và đầu tư công, phóng viên Báo PNVN đã có cuộc trao đổi với GS.TS Hoàng Bá Thịnh, nguyên Trưởng bộ môn Giới, khoa Xã hội học, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội).
BÌNH ĐẲNG GIỚI KHÔNG THỂ TÁCH RỜI CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA
Phóng viên: Thưa Giáo sư, trong bối cảnh phát triển hiện nay, việc đưa yếu tố bình đẳng giới vào các chính sách công, đặc biệt là trong phân bổ ngân sách và đầu tư công, có ý nghĩa quan trọng như thế nào?
GS.TS Hoàng Bá Thịnh: Trước hết, phải khẳng định rằng chính sách về bình đẳng giới tại Việt Nam trong nhiều thập kỷ qua luôn có sự nhất quán.
Chúng ta không chỉ thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới đến năm 2030 mà còn thực hiện các cam kết quốc tế về mục tiêu phát triển bền vững (SDG), đặc biệt là mục tiêu số 5. Riêng về lĩnh vực tài chính công có trách nhiệm giới, tôi cho rằng đây là mảng đặc biệt quan trọng. Ngân sách nhà nước chi cho các dự án phát triển kinh tế, an sinh xã hội, giáo dục, y tế đều cần có yếu tố nhạy cảm giới. Chỉ khi quan tâm đến điều này, chúng ta mới thực sự thúc đẩy được bình đẳng giới, xóa bỏ các khoảng cách và định kiến giữa nam và nữ, cũng như giữa các nhóm yếu thế khác nhau.
Khi xây dựng dự án phát triển - dù ở lĩnh vực và ở cấp độ nào, từ Trung ương đến phường, xã - các nhà hoạch định chính sách cần có nghiên cứu tiền khả thi về yếu tố giới. Chúng ta phải phân tích nhu cầu khác nhau của nam và nữ, kể cả các nhóm như người nghèo, người khuyết tật hay người cao tuổi. Từ đó, nhận diện rõ những thuận lợi, khó khăn khi triển khai: Liệu dự án có tạo ra bất lợi cho nhóm nào không? Lợi ích đem lại cho nam và nữ ra sao? Thậm chí, phải dự báo cả những tác động tiêu cực có thể xảy ra để điều chỉnh kịp thời.

GS.TS Hoàng Bá Thịnh
Phóng viên: Có ý kiến cho rằng dữ liệu giới chính là "xương sống" để triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia hay phân bổ nguồn lực. Ông đánh giá thế nào về thực trạng dữ liệu giới tại Việt Nam hiện nay?
GS.TS Hoàng Bá Thịnh: Dữ liệu thống kê tách biệt theo giới tính là cơ sở khoa học cốt yếu để đề xuất chính sách. Khoảng 15 năm trở lại đây, ngành thống kê Việt Nam đã có nhiều tiến bộ vượt bậc nhờ sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế như Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc (FAO) trong việc nâng cao năng lực thống kê giới. Tuy nhiên, thực tế hiện nay vẫn còn những khoảng trống. Phần lớn các con số phân tách giới tính của Cục Thống kê mới chỉ dừng lại ở tầm vĩ mô (cấp tỉnh, thành phố). Khi đi vào vi mô, dữ liệu này còn rất hạn chế. Nếu hỏi một lãnh đạo xã về số liệu thống kê theo giới tính tại địa phương, tôi e rằng họ khó có thể đáp ứng ngay.
Chúng ta cần dữ liệu tách biệt giới tính toàn diện từ Trung ương đến địa phương để trả lời các câu hỏi: Lao động nữ chiếm bao nhiêu phần trăm? Họ làm nghề gì? Thu nhập so với nam giới ra sao? Hay gánh nặng công việc gia đình, chăm sóc con cái của họ như thế nào? Khi không hiểu thực trạng qua những con số cụ thể, chúng ta sẽ khó có được giải pháp đúng.
GIẢI PHÁP TỐI ƯU HÓA NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH CÔNG
Phóng viên: Việt Nam đã có Luật Ngân sách 2015, Luật Bình đẳng giới 2006 với nhiều quy định tiến bộ. Vậy tại sao việc lồng ghép giới trong thực tế vẫn gặp nhiều thách thức, thưa Giáo sư?
GS.TS Hoàng Bá Thịnh: Về mặt luật pháp, chúng ta đã làm rất tốt. Luật Ngân sách 2015 đã quy định ưu tiên ngân sách cho bình đẳng giới. Luật Thuế cũng có chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ. Nhưng từ luật đến cuộc sống vẫn còn một khoảng cách.
Thách thức lớn nhất nằm ở nhận thức. Một bộ phận lãnh đạo có quyền ra quyết định vẫn chưa thấy hết tầm quan trọng của việc lồng ghép giới trong các dự án đầu tư công. Bên cạnh đó, năng lực của nhóm tư vấn về giới tại các bộ, ngành chủ chốt như Bộ Tài chính cần được nâng cao hơn nữa để họ có thể cân nhắc tỷ lệ phân bổ ngân sách một cách thỏa đáng và hợp lý.
Phóng viên: Để nâng cao hiệu quả tài chính công có trách nhiệm giới trong thời gian tới, theo Giáo sư chúng ta cần tập trung vào những giải pháp trọng tâm nào?
GS.TS Hoàng Bá Thịnh: Tôi đề xuất 4 nhóm giải pháp cụ thể:
Thứ nhất, phải tăng cường tham vấn giới. Trước khi triển khai dự án, cần gặp gỡ các nhóm dân cư tại địa bàn, đặc biệt là phụ nữ, để nghe họ nói về nhu cầu, nguyện vọng và những khó khăn thực tế. Những ý kiến thực tiễn này sẽ giúp giải pháp của chúng ta hiệu quả hơn.
Thứ hai, ưu tiên các dự án có tính nhạy cảm giới cao. Ví dụ, đầu tư vào hệ thống nhà trẻ, mẫu giáo chính là cách giảm gánh nặng gia đình cho phụ nữ, giúp họ yên tâm tham gia thị trường lao động, từ đó tăng thu nhập và độc lập tài chính.
Thứ ba, lồng ghép giới vào kế hoạch hàng năm của mọi cấp. Không có hoạt động dân sinh nào mà không ảnh hưởng đến phụ nữ hoặc nam giới, vì vậy yếu tố giới phải hiện diện trong các nghị quyết phát triển địa phương.
Cuối cùng, là cơ chế giám sát và trách nhiệm giải trình. Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp cần giám sát chặt chẽ việc thực hiện yếu tố giới. Nhà đầu tư dự án phải có kinh phí riêng cho các hoạt động giới và báo cáo tổng kết dự án bắt buộc phải phân tích xem dự án đó đã thúc đẩy bình đẳng giới ra sao, hay lại vô tình tạo thêm gánh nặng cho phụ nữ và trẻ em gái.
Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn Giáo sư về cuộc trò chuyện này!