Giải mã khoảng cách giới và rào cản phía sau làn sóng chuyển đổi số
Quang cảnh hội thảo
Khoảng cách giới trong thời gian tiếp cận, kỹ năng công nghệ và định kiến thuật toán là những rào cản hiện hữu đằng sau làn sóng chuyển đổi số. Vấn đề này được phác họa qua các số liệu nghiên cứu tại Hội thảo khoa học quốc gia do Trung ương Hội LHPN Việt Nam phối hợp với Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức sáng 6/11/2026 tại Hà Nội.
Hội thảo diễn ra trong bối cảnh cả nước đang tích cực triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển đất nước, trong đó chú trọng phát triển con người, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội. Theo Báo cáo Khoảng cách giới toàn cầu năm 2026 của Diễn đàn Kinh tế thế giới, Việt Nam đạt 97,1% mức độ bình đẳng giới trong giáo dục, lĩnh vực tham gia và cơ hội kinh tế đạt 75,2%, thuộc nhóm 50 nền kinh tế có kết quả tốt nhất. Tuy nhiên, xét trên chỉ số khoảng cách giới tổng thể, Việt Nam xếp thứ 84/145 nền kinh tế, giảm 10 bậc so với năm 2025.
Phát biểu khai mạc hội thảo, Phó Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam Nguyễn Thị Thu Hiền nhấn mạnh ý nghĩa của việc đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia trong việc đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực, bảo đảm cơ hội tham gia bình đẳng của phụ nữ.

Phó Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam Nguyễn Thị Thu HiềnVphát biểu khai mạc hội thảo
Phó Chủ tịch Nguyễn Thị Thu Hiền chỉ rõ: "Khoảng cách giữa phụ nữ và nam giới vẫn tồn tại trong cơ hội việc làm, thu nhập, tiếp cận nguồn lực, tham gia các lĩnh vực khoa học, công nghệ. Định kiến giới cùng gánh nặng công việc gia đình, trách nhiệm chăm sóc tiếp tục hạn chế điều kiện học tập, làm việc, phát triển toàn diện của phụ nữ. Điều đó đặt ra yêu cầu làm rõ nguyên nhân của những hạn chế, xác định các lĩnh vực cần ưu tiên để thu hẹp khoảng cách giới, giải quyết những rào cản ảnh hưởng đến cơ hội của phụ nữ trong quá trình chuyển đổi số".
Nhận diện rào cản từ những con số thực tế
Tại hội thảo, các báo cáo nghiên cứu và tham luận đã đưa ra những con số khảo sát cụ thể, phản ánh chân thực khoảng cách giới đang tồn tại trong việc tiếp cận và sử dụng công nghệ số.
Trình bày kết quả phân tích từ Khảo sát quốc gia về bình đẳng giới năm 2024 trên mẫu 9.190 người từ 18 tuổi trở lên, PGS. TS Trần Thị Minh Thi, Phó Viện trưởng Viện Thông tin Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, cho biết tỷ lệ người dân tiếp cận Internet ở Việt Nam rất cao, đạt 87,5%, trong đó nam giới là 89,6% và nữ giới là 85,7%. Khoảng cách tiếp cận ban đầu không quá lớn nhưng sự chênh lệch lại xuất hiện rõ nét ở thời gian và cách thức sử dụng. Trung bình nam giới dành 5,5 giờ mỗi ngày cho Internet, còn phụ nữ là 4,2 giờ. Tại Đông Nam Bộ, khu vực có mức độ sử dụng cao nhất cả nước, khoảng cách giới lại lớn nhất khi nam giới sử dụng 5,6 giờ mỗi ngày còn nữ giới là 4,7 giờ.

Quang cảnh Hội thảo
Bên cạnh đó, gánh nặng công việc gia đình không tên được chỉ ra là nguyên nhân trực tiếp làm giảm thời gian tiếp cận công nghệ của phụ nữ. Trong khi nhóm chưa kết hôn sử dụng Internet từ 6 đến 12 giờ mỗi ngày, thì nhóm đã lập gia đình và có con nhỏ giảm xuống chỉ còn khoảng 2 đến 2,9 giờ. Phụ nữ cũng tập trung nhiều hơn ở nhóm bất lợi về kỹ năng khi chỉ có 39,8% biết sử dụng thành thạo cả điện thoại thông minh và máy tính, thấp hơn đáng kể so với con số 51,7% của nam giới. Tỷ lệ phụ nữ không biết dùng cả hai thiết bị này là 8,3%, cao hơn gấp đôi so với nam giới.
PGS.TS Trần Thị Minh Thi chia sẻ một góc nhìn đáng suy ngẫm từ thực tiễn: "Công nghệ đã vào với gia đình nhưng dường như vẫn mang theo một phần nào đấy các công việc nhà truyền thống. Phụ nữ vẫn gắn bó với cái máy giặt hơn, nam giới thì gắn bó nhiều hơn với các thiết bị nhà thông minh. Công nghệ tự nó không làm thay đổi ngay việc chia sẻ việc nhà hay chuyện giới".

PGS.TS Nguyễn Đức Chiện, Phó Viện trưởng Viện Xã hội học và Tâm lý học, Tổng Biên tập Tạp chí Xã hội học và Tâm lý học, phát biểu tham luận
Nhận định về khoảng cách này từ góc độ đào tạo và thể chế, PGS.TS Nguyễn Đức Chiện, Phó Viện trưởng Viện Xã hội học và Tâm lý học, Tổng Biên tập Tạp chí Xã hội học và Tâm lý học, chỉ ra rằng sự phân hóa giới đã xuất hiện ngay từ bậc học đại học. Các ngành kỹ thuật, công nghệ hiện có tỷ lệ sinh viên nam áp đảo, còn sinh viên nữ lại tập trung chủ yếu ở các ngành xã hội và sư phạm, dẫn đến sự bất bình đẳng trong lực lượng lao động số tương lai.
PGS.TS Nguyễn Đức Chiện nhận định: "Qua quan sát kinh nghiệm quốc tế, các quốc gia phương Tây như Anh hay Na Uy đã đi rất xa khi đưa bình đẳng giới trong môi trường số vào luật pháp. Trung Quốc hay Nhật Bản có độ trễ hơn, còn Việt Nam chúng ta vẫn đi sau rất nhiều. Khoảng cách về số giữa các vùng miền, giữa nam và nữ ngày càng xa nhau. Nếu chúng ta không sớm nhận diện và đánh giá đầy đủ thì sẽ dẫn tới rất nhiều hệ lụy xã hội về sau".
Thách thức mới từ nguy cơ định kiến thuật toán
Không dừng lại ở rào cản kỹ năng hay thời gian, sự phát triển bùng nổ của các công nghệ tiên tiến như trí tuệ nhân tạo (AI) đang đặt ra những nguy cơ mới về sự gia tăng bất bình đẳng giới ở quy mô diện rộng.
Phân tích về cơ chế hoạt động của công nghệ, ThS Vũ Thị Hạnh, đại diện Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel), Bộ Quốc phòng, đã làm rõ những điểm mù nguy hiểm khi AI được huấn luyện trên các bộ dữ liệu mang sẵn định kiến xã hội. AI không đơn thuần học hỏi mà còn có cơ chế khuếch đại các thông tin phổ biến, khiến cho những thành kiến giới có sẵn trong đời sống trở nên trầm trọng hơn khi đi vào môi trường thuật toán.

ThS Vũ Thị Hạnh, Trưởng phòng Công nghệ, Học viện Viettel, Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội, Bộ Quốc phòng
ThS Vũ Thị Hạnh phân tích: "AI có thể học tập từ con người, từ dữ liệu huấn luyện được thiết kế bởi những con người cụ thể và vận hành trong một xã hội còn định kiến, nên AI có thể vô tình nhân rộng những bất bình đẳng trước đây với tốc độ và quy mô khó kiểm soát. Khi công nghệ càng mạnh thì trách nhiệm giới càng cần đặt ra sớm".
Nhiều dẫn chứng thực tế quốc tế được đưa ra để chứng minh cho nguy cơ này, như việc thuật toán tuyển dụng tự động từng chấm điểm thấp các hồ sơ chứa từ khóa liên quan đến nữ giới, hệ thống nhận diện khuôn mặt thương mại sai lệch tới 35% đối với phụ nữ da màu, hay các mô hình ngôn ngữ lớn có xu hướng tự động gắn phụ nữ với công việc nội trợ còn nam giới với quyền lực và sự nghiệp. Ngoài ra, sự xuất hiện của các công cụ công nghệ mới cũng làm gia tăng rủi ro bạo lực trên không gian mạng, khi có tới 96% video Deepfake khiêu dâm giả mạo trên các nền tảng số hiện nay nhắm trực tiếp vào đối tượng phụ nữ.

Các đại biểu tham dự Hội thảo
Thực trạng này cùng với sự thiếu hụt nghiêm trọng lực lượng lao động nữ trong ngành công nghệ, nơi phụ nữ hiện chỉ chiếm khoảng một phần tư nhân lực AI toàn cầu, đang đặt ra một bài toán lớn cho tiến trình chuyển đổi số tại Việt Nam. Nếu không có những nhìn nhận thẳng thắn và sự can thiệp kịp thời từ khâu chính sách đến phát triển công nghệ, chuyển đổi số thay vì thu hẹp lại có nguy cơ nới rộng thêm khoảng cách giới, đẩy những nhóm phụ nữ yếu thế ra xa hơn khỏi các cơ hội phát triển của nền kinh tế số.
Những phân tích chuyên sâu về thực trạng và rào cản tại hội thảo cũng chính là tiền đề quan trọng để các nhà quản lý, chuyên gia tiếp tục thảo luận, hiến kế những giải pháp căn cơ nhằm thu hẹp khoảng cách giới trong phiên tọa đàm diễn ra tiếp theo của chương trình.