Giải thưởng Phụ nữ Việt Nam năm 2026: Khi phụ nữ làm chủ công nghệ cao
PGS.TS. Giảng viên cao cấp Nguyễn Thị Hiệp (bên phải) và PGS.TS. Bác sĩ đa khoa Nguyễn Thị Thu Phương
Vượt qua định kiến coi kỹ thuật là sân chơi của nam giới, nhiều phụ nữ Việt Nam đang âm thầm làm chủ công nghệ cao từ phòng lab y sinh, hệ thống trí tuệ nhân tạo đến lớp học robot nơi non cao. Được vinh danh tại Giải thưởng Phụ nữ Việt Nam năm 2026, họ chứng minh giá trị lớn nhất của công nghệ không nằm ở những cỗ máy vô cảm, mà ở sự thấu cảm mềm mại: Biến tri thức số thành lá chắn chở che sự sống và mở lối tương lai cho con người.
Từ phụ phẩm quê nhà đến giấc mơ tự chủ vật liệu sinh học
Trong căn phòng thí nghiệm của Khoa Kỹ thuật Y sinh, Trường Đại học Quốc tế thuộc Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, PGS.TS. Giảng viên cao cấp Nguyễn Thị Hiệp thường bắt đầu một ngày làm việc bên những chiếc kính hiển vi và máy đo phổ. Nhìn người phụ nữ say sưa phân tích từng cấu trúc nano của màng cellulose vi khuẩn, ít ai hình dung chị là tác giả của hàng loạt công trình y sinh tầm cỡ quốc tế với 136 bài báo Scopus/ISI và 7 bằng sáng chế đã được cấp. Nhưng nếu hỏi điều gì đã thôi thúc chị dấn thân vào con đường nghiên cứu gian nan này hơn 10 năm qua, câu trả lời của chị lại bắt đầu từ một nghịch lý rất đỗi đời thường của y tế nước nhà.
Trong những chuyến đi thực tế và quá trình làm việc với các bác sĩ lâm sàng, chị nhận ra hầu hết các loại vật liệu y sinh cao cấp phục vụ cầm máu nhanh, vá mô, tái tạo xương hay màng chống dính sau phẫu thuật đều phải nhập khẩu với giá thành đắt đỏ. Một miếng gạc cầm máu chuyên dụng hay một tuýp keo dán sinh học nhập ngoại có thể tiêu tốn cả một khoản tiền lớn, vượt quá khả năng chi trả của những người dân lao động nghèo.
Đau xót hơn, ở những vùng sâu, vùng xa, nơi hải đảo hay biên cương của Tổ quốc, nơi việc tiếp cận cơ sở y tế chuyên sâu còn vô vàn cách trở, không ít trường hợp thương vong xảy ra chỉ vì không có phương tiện sơ cứu, cầm máu tại chỗ kịp thời. Trong khi đó, Việt Nam lại là quốc gia trù phú về nguồn tài nguyên thiên nhiên và phụ phẩm nông - thủy sản dồi dào. Thạch dừa Bến Tre trĩu ngọt, vỏ tôm phế thải từ các nhà máy chế biến thủy sản miền Tây, hay nguồn rong biển trải dọc dải bờ biển Nam Trung Bộ… phần lớn đều bị bỏ phí hoặc bán thô với giá trị rất thấp.

PGS.TS. Giảng viên cao cấp Nguyễn Thị Hiệp, Trưởng khoa Kỹ thuật Y sinh, Trường Đại học Quốc tế, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Nghịch lý ấy trở thành nỗi day dứt khôn nguôi trong lòng nữ nhà khoa học. Tại sao chúng ta phải bỏ ngoại tệ đắt đỏ mua từng miếng băng gạc ngoại nhập trong khi có thể biến chính phụ phẩm quê hương thành vật liệu cứu người? Nghĩ là làm, chị cùng các cộng sự kiên trì dấn thân vào chuỗi ngày làm bạn với hóa chất, tế bào và vật liệu sinh học. Chị đi sâu vào nghiên cứu cơ chế tương thích sinh học, biến tính màng cellulose từ thạch dừa kết hợp với oligomer chitosan chiết xuất từ vỏ tôm để tạo nên loại gạc sinh học có khả năng cầm máu nhanh, kháng khuẩn và giữ ẩm vết thương.
Thử nghiệm lâm sàng và kiểm tra thực tế cho thấy, loại gạc này giúp rút ngắn thời gian cầm máu từ 20% đến 30% so với gạc y tế thông thường mà hoàn toàn không gây kích ứng. Thành công này không chỉ dừng lại ở bài báo hay báo cáo nghiệm thu, mà đã được đưa vào thử nghiệm pilot tại cơ sở sản xuất ở Bến Tre, trực tiếp mở ra hướng gia tăng giá trị kinh tế cho người trồng dừa.
Chưa dừng lại ở đó, từ nguồn polyme tự nhiên, chị tiếp tục phát triển hệ keo dán sinh học thông minh phục vụ khâu vá vết thương mà không cần dùng kim chỉ - một công trình được nhận tài trợ quốc tế với định hướng chuyên biệt phục vụ sơ cứu khẩn cấp cho ngư dân bám biển và các chiến sĩ canh giữ biên cương. Khi người bệnh ở vùng sâu vùng xa bị vết thương hở sâu, chỉ cần một thao tác dán nhanh bằng keo sinh học, vết rách đã được bịt kín, ngăn mất máu và chống nhiễm trùng trước khi được đưa tới trạm xá.
Từ mực in sinh học cho ứng dụng tạo xương 3D đến chế tạo mạch máu nhân tạo sợi nano, người phụ nữ ấy đã kiên trì chứng minh: Trí tuệ của phụ nữ Việt Nam hoàn toàn có thể làm chủ công nghệ vật liệu tiên tiến, chủ động nguồn cung vật tư y tế trong nước và dùng khoa học để phụng sự nhân dân từ những điều dung dị nhất.
"Lá chắn số" bảo vệ người bệnh từ trí tuệ nhân tạo
Nếu công trình của PGS.TS Nguyễn Thị Hiệp là cuộc hành trình đi tìm lời giải từ cấu trúc vật liệu hiển vi, thì tại Trường Đại học Y Dược Hải Phòng, PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương lại chọn cho mình một mặt trận vô hình nhưng đầy hiểm nguy: Cuộc chiến với những tương tác thuốc và sai sót trong điều trị y khoa.
Được công nhận chức danh Phó Giáo sư ngành Y khi mới 37 tuổi, nữ bác sĩ đa khoa kiêm Trưởng khoa Dược học này sớm nhìn thấy một lỗ hổng đáng lo ngại trong thực hành y tế. Trong bối cảnh mô hình bệnh tật ngày càng phức tạp, việc một người bệnh - đặc biệt là người cao tuổi, người mắc bệnh mạn tính - phải sử dụng cùng lúc từ 5 đến 10 loại thuốc khác nhau là điều diễn ra hàng ngày ở khắp các bệnh viện.
Mỗi một viên thuốc đưa vào cơ thể đều mang theo những biến số dược động học khó lường. Một sự tương tác bất lợi giữa hai hoạt chất tưởng như vô hại có thể làm vô hiệu hóa tác dụng điều trị, gây tổn thương gan, suy tủy, hoặc thậm chí đe dọa trực tiếp đến tính mạng người bệnh. Trong khi đó, áp lực khám chữa bệnh quá tải khiến các y bác sĩ và dược sĩ lâm sàng dù tận tâm đến mấy cũng khó có thể kiểm soát và tra cứu tức thì hàng nghìn tương tác chéo trong từng đơn thuốc viết tay hay hình ảnh đơn thuốc gửi về.
Nỗi lo lắng cho sự an toàn của người bệnh đã thôi thúc PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương đi tìm công cụ hỗ trợ. Chị nhận ra rằng, chỉ có trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn và các mô hình toán học định lượng mới có thể xử lý khối lượng thông tin khổng lồ ấy trong tích tắc để cảnh báo sớm rủi ro. Vốn xuất thân là bác sĩ lâm sàng, chị đã tự mình dấn thân vào lĩnh vực liên ngành gai góc: Kết hợp giữa y học, dược học lâm sàng và khoa học máy tính. Chị tiên phong đưa các phương pháp hiện đại như mô hình hóa dược động học sinh lý, dược di truyền học và học máy vào giải quyết các vấn đề điều trị tại Việt Nam.

PGS.TS. Bác sĩ đa khoa Nguyễn Thị Thu Phương, Trưởng Khoa dược học, Trường Đại học Y dược Hải Phòng
Dự án tiêu biểu mang tên "PharmAI-Safe" do chị làm chủ nhiệm - công trình vừa được Quỹ Giáo dục và Nghiên cứu của Liên đoàn Dược thế giới (FIP) vinh danh và cấp quỹ nghiên cứu năm 2026 - chính là lời giải trọn vẹn cho trăn trở ấy. Hệ thống AI này cho phép nhận diện hình ảnh đơn thuốc, tự động truy xuất nguồn bằng chứng y khoa quốc tế và phát hiện ngay lập tức các tương tác thuốc chống chỉ định. Thay vì phải mất hàng giờ lật tìm tài liệu, dược sĩ và bác sĩ chỉ cần một thao tác quét để nắm được những nguy cơ tiềm ẩn.
Không chỉ dừng lại ở đó, chị còn phát triển hàng loạt mô hình dự báo liều điều trị cá thể hóa cho bệnh nhân suy giáp, mô hình dự báo tổn thương gan do thuốc và nguy cơ giảm tiểu cầu miễn dịch. Chị hiểu rằng, mỗi con người có một kiểu gen, một đáp ứng thuốc hoàn toàn khác nhau. Ứng dụng AI vào y học cá thể hóa chính là cách biến công nghệ trở thành "người gác cổng vô hình", bảo vệ bệnh nhân khỏi những rủi ro dùng thuốc đáng tiếc. Hơn 100 công trình khoa học được công bố là minh chứng cho một tinh thần khoa học nghiêm cẩn, nơi công nghệ số hòa quyện vào đạo đức nghề y để đem lại sự an tâm tuyệt đối cho người bệnh.
Nhìn lại hành trình của PGS.TS Nguyễn Thị Hiệp và PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương có thể thấy rõ một sợi chỉ đỏ xuyên suốt: Công nghệ cao trong tay người phụ nữ không bao giờ là những cỗ máy vô cảm hay những dòng mã lạnh lùng. Nó luôn được sưởi ấm bằng ngọn lửa của tình thương, lòng trắc ẩn và khát vọng cống hiến vì một xã hội tốt đẹp hơn. Họ đã bước qua những rào cản định kiến bằng sự bền bỉ, kiên định và đức hy sinh thầm lặng. Người phụ nữ làm khoa học công nghệ phải nỗ lực gấp đôi, gấp 3 để vừa chu toàn thiên chức gia đình, vừa bám trụ phòng lab thâu đêm, vừa lặn lội lên những điểm trường cheo leo dốc núi. Nhưng chính bản năng làm mẹ, làm chị, sự nhạy cảm trước nỗi đau của đồng loại đã giúp họ nhìn thấy những khoảng trống mà người khác dễ dàng bỏ qua: một vết thương hở cần cầm máu nhanh nơi đảo xa hay một nguy cơ dị ứng thuốc của người già nghèo.
Họ là những đại diện tiêu biểu cho thế hệ phụ nữ Việt Nam mới trong kỷ nguyên chuyển đổi số và hội nhập quốc tế: Tự tin, bản lĩnh, trí tuệ và giàu lòng nhân ái. Được tôn vinh tại Giải thưởng Phụ nữ Việt Nam năm 2026 không chỉ là sự ghi nhận xứng đáng cho những cống hiến xuất sắc của các chị, mà còn là lời khẳng định mạnh mẽ: Phụ nữ hoàn toàn có thể làm chủ công nghệ cao, biến công nghệ thành công cụ phụng sự nhân sinh và dẫn dắt đất nước vững bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.