Xem thêm thông tin của Báo PNVN trên
Phụ nữ Việt Nam
MỚI NHẤT ĐỘC QUYỀN MULTIMEDIA CHUYÊN ĐỀ

Giảm lãi suất ngân hàng: Doanh nghiệp cần vốn thực chất chứ không chỉ mức lãi suất công bố

Trường Lê
Giảm lãi suất ngân hàng: Doanh nghiệp cần vốn thực chất chứ không chỉ mức lãi suất công bố

Ảnh minh họa

Chủ trương giảm lãi suất cho vay được kỳ vọng giúp doanh nghiệp giảm chi phí vốn, phục hồi sản xuất và mở rộng kinh doanh. Tuy nhiên, với nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa, khó khăn không chỉ nằm ở lãi suất mà còn ở khả năng tiếp cận vốn, hạn mức tín dụng và áp lực duy trì dòng tiền.

Doanh nghiệp có nhà máy, có đơn hàng nhưng lo đứt dòng tiền

Tại hội nghị "Ngành Ngân hàng đồng hành khơi thông nguồn lực Tài chính - Ngân hàng phục vụ tăng trưởng vùng Đông Nam Bộ giai đoạn 2026-2030" diễn ra ngày 23/10, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn nêu định hướng giảm lãi suất cho vay từ 1,5-2% đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên. Động thái này mở ra kỳ vọng về nguồn vốn với chi phí thấp hơn, hỗ trợ doanh nghiệp duy trì hoạt động và tạo động lực tăng trưởng kinh tế.

Nhiều ngân hàng tiếp tục hạ lãi suất sau chỉ đạo quyết liệt từ Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước để hỗ trợ doanh nghiệp, người dân kinh doanh, sản xuất.

Tuy nhiên, từ chủ trương giảm lãi suất đến khả năng tiếp cận vốn trên thực tế vẫn còn khoảng cách. Với nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), điều quan trọng không chỉ là lãi suất bao nhiêu mà còn là có vay được vốn hay không, hạn mức có đáp ứng nhu cầu và dòng tiền có đủ để duy trì sản xuất, kinh doanh hay không.

Ông Dương Thanh Đảo, Tổng Giám đốc Công ty Hải Đảo Food, cho biết, doanh nghiệp hoan nghênh chủ trương giảm lãi suất trong bối cảnh kinh tế còn nhiều biến động. Tuy nhiên, theo ông, điều doanh nghiệp mong đợi không chỉ là những con số lãi suất giảm trên thông báo mà là dòng vốn thực sự đến được với hoạt động sản xuất.

Đặc thù của ngành thủy hải sản là doanh nghiệp phải ứng vốn trước để thu mua nguyên liệu, chế biến, bảo quản lạnh và vận chuyển. Trong khi đó, khách hàng thường thanh toán công nợ sau 40-60 ngày, thậm chí lâu hơn. Khi tiền hàng chưa quay trở lại, doanh nghiệp vẫn phải chi trả tiền nguyên liệu, lương nhân viên, điện, kho lạnh, logistics và lãi vay.

Vòng quay vốn kéo dài khiến áp lực tài chính ngày càng lớn, nhất là khi biên lợi nhuận chịu sức ép từ chi phí đầu vào và cạnh tranh thị trường. Chỉ cần chi phí tài chính tăng thêm vài phần trăm, phần lợi nhuận tích lũy của doanh nghiệp cũng có thể bị bào mòn đáng kể.

"Lãi suất công bố giảm là một tín hiệu tích cực nhưng điều quan trọng hơn là doanh nghiệp có thực sự vay được vốn với mức lãi suất hợp lý hay không", ông Đảo chia sẻ.

Thực tế, khó khăn của Hải Đảo Food nằm ở chi phí vốn và ở khả năng duy trì hạn mức tín dụng. Năm 2025, với mong muốn phát triển sản xuất, nâng cao năng lực chế biến và mở rộng thị trường, doanh nghiệp đã đầu tư xây dựng nhà máy, đồng thời huy động nguồn vốn vay cá nhân để bổ sung cho hoạt động đầu tư và kinh doanh.

Theo ông Đảo, do đặc thù tài sản bảo đảm, nhất là đất nông nghiệp, việc tiếp cận tín dụng dưới pháp nhân doanh nghiệp gặp nhiều trở ngại. Sau khi nhà máy được đầu tư, ngân hàng tiến hành tái thẩm định và thu hẹp hạn mức tín dụng, có thời điểm giảm khoảng 50% so với trước. Cùng lúc, doanh nghiệp phải đối mặt với áp lực các khoản vay đến kỳ đáo hạn.

Giảm lãi suất ngân hàng - Doanh nghiệp cần vốn thực chất - Ảnh 1.

Ông Dương Thanh Đảo - Tổng Giám đốc Công ty Hải Đảo Food

Nguồn vốn đã được đưa vào nhà máy, hàng hóa và các khoản phải thu từ khách hàng, nhưng nhu cầu tiền mặt để duy trì sản xuất vẫn liên tục phát sinh. Khi hạn mức tín dụng bị thu hẹp, doanh nghiệp phải xoay xở nguồn tiền để mua nguyên liệu, trả lương, thanh toán cho nhà cung cấp và thực hiện nghĩa vụ với ngân hàng.

"Lãi suất cao đã khó nhưng bị thu hẹp hạn mức tín dụng khi doanh nghiệp đang cần vốn còn nguy hiểm hơn", ông Đảo nói.

Theo vị lãnh đạo doanh nghiệp, ngân hàng có trách nhiệm quản trị rủi ro, song việc đánh giá khả năng trả nợ cũng cần xem xét đầy đủ dòng tiền, hợp đồng đầu ra, lịch sử kinh doanh và năng lực thanh toán, thay vì quá phụ thuộc vào giá trị tài sản thế chấp.

Từ thực tế hoạt động, ông Đảo kiến nghị, việc giảm lãi suất cần đi cùng khả năng tiếp cận vốn thực chất, nhất là với doanh nghiệp SME trong các lĩnh vực sản xuất, nông nghiệp, thủy hải sản và xuất khẩu. Ngân hàng cũng cần có lộ trình phù hợp khi điều chỉnh hạn mức tín dụng, tránh khiến doanh nghiệp thiếu vốn đột ngột giữa chu kỳ sản xuất.

Doanh nghiệp mong muốn được tiếp cận các hình thức tài trợ dựa trên đơn hàng, chuỗi cung ứng, khoản phải thu và hàng tồn kho trong những điều kiện phù hợp; đồng thời phát triển cơ chế bảo lãnh tín dụng để hỗ trợ các đơn vị có phương án kinh doanh khả thi nhưng hạn chế về tài sản bảo đảm.

"Chúng tôi không xin được vay bằng mọi giá, càng không mong ngân hàng gánh thay rủi ro kinh doanh. Điều doanh nghiệp cần là được đánh giá đúng năng lực, tiếp cận nguồn vốn công bằng và có thời gian thích ứng khi chính sách tín dụng thay đổi", ông Đảo nhấn mạnh.

Giảm lãi suất là cần thiết nhưng chưa đủ

Phân tích về ý nghĩa của việc giảm lãi suất, PGS.TS Đinh Trọng Thịnh, chuyên gia kinh tế, cho rằng, việc các ngân hàng hạ lãi suất theo định hướng của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước có thể giúp giảm chi phí vay vốn, qua đó giảm áp lực trả nợ và tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi, mở rộng sản xuất, kinh doanh.

Khi chi phí vốn giảm, doanh nghiệp có thêm dư địa tài chính để đầu tư máy móc, bổ sung nguyên liệu, duy trì việc làm và nâng cao năng lực cạnh tranh. Ở phạm vi rộng hơn, nguồn vốn được đưa vào hoạt động sản xuất hiệu quả sẽ góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Giảm lãi suất ngân hàng - Doanh nghiệp cần vốn thực chất - Ảnh 2.

PGS.TS Đinh Trọng Thịnh

Tuy nhiên, theo chuyên gia, giảm lãi suất không phải giải pháp duy nhất để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Trong bối cảnh nhiều đơn vị còn đối mặt với tình trạng thiếu hụt đơn hàng, chi phí đầu vào cao và sức mua thị trường yếu, việc giảm chi phí vay vốn mới chỉ giải quyết một phần bài toán.

Nếu đầu ra chưa được cải thiện, hàng hóa khó tiêu thụ, dòng tiền không quay vòng thì ngay cả khi lãi suất giảm, doanh nghiệp vẫn có thể gặp khó khăn trong việc trả nợ và duy trì hoạt động. Vì vậy, hoạt động sản xuất, kinh doanh cần được chuẩn bị đồng bộ, bắt nhịp với xu hướng thị trường và vận hành trong hành lang pháp lý rõ ràng, ổn định.

Bên cạnh đó, việc hạ mặt bằng lãi suất để dòng vốn thực sự đi vào nền kinh tế không phải nhiệm vụ đơn giản. Theo PGS.TS Đinh Trọng Thịnh, Ngân hàng Nhà nước cần tiếp tục sử dụng linh hoạt các công cụ điều hành tiền tệ, cải thiện hiệu quả các kênh hỗ trợ thanh khoản, trong đó có các công cụ cho vay hỗ trợ ngắn hạn với mức lãi suất phù hợp, tạo điều kiện giảm chi phí vốn một cách bền vững, đồng thời bảo đảm an toàn hệ thống tín dụng.

Ở phía các ngân hàng thương mại, bài toán đặt ra là cân bằng giữa yêu cầu quản trị rủi ro và nhu cầu vốn thực tế của doanh nghiệp. Việc thẩm định tín dụng cần xem xét tổng thể nguồn tài chính, dòng tiền, khả năng tiêu thụ sản phẩm và lịch sử thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Với những doanh nghiệp có hoạt động sản xuất thực chất, có hợp đồng đầu ra và phương án kinh doanh khả thi, các cơ chế tài trợ phù hợp có thể góp phần nâng cao khả năng tiếp cận vốn.

Giảm lãi suất ngân hàng - Doanh nghiệp cần vốn thực chất - Ảnh 3.

Ảnh minh họa

Đồng thời, chính doanh nghiệp cũng cần chủ động nâng cao năng lực quản trị tài chính, kiểm soát chi phí, xây dựng kế hoạch dòng tiền và lựa chọn phương án sản xuất phù hợp với nhu cầu thị trường. Nguồn vốn giá rẻ chỉ phát huy hiệu quả khi được sử dụng đúng mục đích, tạo ra doanh thu và dòng tiền đủ để duy trì hoạt động, thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

Vì vậy, hiệu quả của chính sách giảm lãi suất không nên chỉ được nhìn nhận qua mức lãi suất công bố mà còn cần được đánh giá từ khả năng tiếp cận vốn, mức độ đáp ứng nhu cầu sản xuất và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.

Ý kiến của bạn
Bình luận