Hành trình đi tìm những mảnh ghép lịch sử của nữ giáo sư khảo cổ duy nhất Việt Nam
Gần nửa thế kỷ gắn bó với những chuyến điền dã, hố khai quật và những mảnh gốm nằm sâu trong lòng đất, GS.TS Lâm Thị Mỹ Dung đã góp phần làm sáng rõ nhiều lớp văn hóa ở miền Trung Việt Nam. Bà cũng dành nhiều năm đào tạo, truyền cho học trò một cách làm nghề trung thực, say mê và có trách nhiệm với di sản.

Một lựa chọn tình cờ đã trở thành nghề nghiệp gắn bó với GS.TS Lâm Thị Mỹ Dung cả cuộc đời
Với GS.TS Lâm Thị Mỹ Dung, khảo cổ học bắt đầu từ một lựa chọn gần như tình cờ. Khi thi đại học, bà chọn khối C và đăng ký học Văn, Trường Đại học Tổng hợp. Tuy nhiên khi được cử sang Bulgaria học tập, bà được sắp xếp theo ngành Lưu trữ.
Nhưng sau học kỳ đầu tiên, những môn như lịch sử Bulgaria, lịch sử Balkan, dân tộc học và đặc biệt là khảo cổ học đã cuốn hút cô sinh viên Việt Nam. "Nghe từ khảo cổ học lúc ấy, tôi thấy hay và nghĩ chắc là mình sẽ được đi đây đó, được khám phá", bà nhớ lại.
Sự tò mò nhanh chóng trở thành say mê. Bà làm đơn xin chuyển ngành dù các giáo sư Bulgaria cảnh báo khảo cổ học không phải ngành dễ học với sinh viên nước ngoài. Ngoài kiến thức chuyên môn, sinh viên phải đi thực địa và tham gia khai quật hằng năm. Cô sinh viên Việt Nam khi ấy lập tức khẳng định: "Người Bulgaria học được thì tôi cũng sẽ học được!".
Những cuốn sổ nhuốm màu thời gian
GS Lâm Thị Mỹ Dung chia sẻ, khảo cổ học bắt đầu từ việc quan sát. Những năm cuối thập niên 1980, đầu thập niên 1990, khi công nghệ còn hạn chế, các nhà khảo cổ điền dã chủ yếu dựa vào giấy bút. Đi đến đâu phải ghi chép, gặp người dân phải hỏi. Địa hình, dòng sông, ngọn đồi, dấu tích kiến trúc hay một mảnh gốm nhặt được trên mặt đất đều có thể trở thành đầu mối nghiên cứu.

Những cuốn sổ ghi chép được GS Lâm Thị Mỹ Dung gìn giữ đến tận bây giờ
Cách làm ấy chịu ảnh hưởng sâu sắc từ người thầy của bà, GS Trần Quốc Vượng. Bà đặc biệt coi trọng tri thức của người dân địa phương. Theo bà, người dân nhiều khi hiểu vùng đất của mình hơn nhà khảo cổ. Một câu chuyện tưởng như bình thường cũng có thể dẫn tới một địa điểm khảo cổ, một tên đất, tên làng có thể lưu giữ dấu vết mà sách vở chưa từng ghi lại.
Trong mỗi cuộc khai quật, nhật ký được ghi hằng ngày. Thời tiết, tình trạng hố khai quật, vị trí hiện vật, địa tầng và những thay đổi của khu vực đều được lưu lại. Ngày nay, công nghệ đã thay đổi cách các nhà khảo cổ làm việc, nhưng những cuốn sổ vẫn có giá trị. Cảnh quan luôn biến đổi, trong khi những ghi chép cũ có thể trở thành nguồn tư liệu quý cho người đến sau.
Đó cũng là lý do bà vẫn yêu cầu sinh viên viết nhật ký khi đi thực địa. "Khai quật xong không có nghĩa là xong", bà nói. Một hiện vật được đưa lên khỏi lòng đất mới chỉ là bước đầu. Sau đó còn là lập hồ sơ, chụp ảnh, mô tả địa tầng, xử lý hiện vật, nghiên cứu và công bố. Khảo cổ học vì thế đòi hỏi sự kiên nhẫn và chính xác để từ những dấu tích nhỏ bé có thể phục dựng một phần đời sống của con người trong quá khứ.
Đi tìm những "vùng trắng"
Trở về Việt Nam, bà Mỹ Dung có cơ hội đi cùng GS Trần Quốc Vượng trong nhiều chuyến khảo sát ở miền Trung. Những chuyến đi ấy cũng dần định hình hướng nghiên cứu của bà.



GS Lâm Thị Mỹ Dung đã góp phần không nhỏ trong việc xây dựng bản đồ khảo cổ ở Việt Nam.
Khi đó, nhiều khu vực miền Bắc đã được nghiên cứu khá sâu. Trong khi đó, không ít vùng đất miền Trung vẫn là những "vùng trắng" trên bản đồ khảo cổ. Bà chọn đi vào những vùng đất ấy. Quảng Trị, Quảng Nam, Hội An trở thành những địa bàn gắn bó với bà trong nhiều năm. Các cuộc khảo sát tìm kiếm di tích dưới lòng đất; đình, đền, chùa, công trình lịch sử, sông ngòi, địa hình, cảnh quan và ký ức của cộng đồng đều được xem là nguồn tư liệu quý.
Bà đặc biệt coi trọng việc xây dựng bản đồ khảo cổ. Bởi muốn bảo tồn di sản, trước hết phải biết di sản đang ở đâu. Không ít di tích có thể biến mất chỉ vì con người không biết dưới vùng đất mình đang sử dụng có một phần lịch sử đang tồn tại.
Bà nhớ mãi câu chuyện về một cán bộ địa phương. Trong một chuyến khảo sát, đoàn được biết ông từng cho phá một đền tháp Champa để lấy gạch xây dựng công trình thủy điện nhỏ phục vụ người dân.
Khi GS Trần Quốc Vượng giải thích về giá trị của di tích, cán bộ này đã khóc. Ông nhận ra rằng trong mong muốn làm điều tốt cho cộng đồng, mình đã vô tình làm mất đi một phần di sản. Sau đó, khi đoàn khảo cổ trở lại khai quật ở Trà Kiệu, ông đã hỗ trợ đoàn rất nhiều.
Câu chuyện ấy cho bà một bài học sâu sắc về mối quan hệ giữa khảo cổ học và cộng đồng. Di sản sẽ khó được bảo vệ nếu người dân chưa hiểu giá trị của nó. Bảo tồn vì thế phải bắt đầu từ việc giúp cộng đồng hiểu lịch sử của chính mảnh đất mình đang sống.

Những bức ảnh từ các chuyến đi điền dã đã nhuốm màu thời gian
Những chuyến điền dã ở miền Trung cũng mở ra nhiều hướng nghiên cứu cho GS Lâm Thị Mỹ Dung và các đồng nghiệp. Trước năm 1990, Hội An gần như là một "khoảng trắng" trong nghiên cứu về văn hóa Sa Huỳnh. Qua nhiều cuộc khảo sát, các nhà khảo cổ dần phát hiện những dấu tích cho thấy khu vực này từng giữ vị trí quan trọng trong mạng lưới giao thương của cư dân cách đây khoảng 2.000 năm.
Những mảnh gốm, tầng đất và dấu tích cư trú tưởng như rời rạc bắt đầu nối vào nhau. Từ đó, lịch sử của vùng đất sau này trở thành một thương cảng nổi tiếng được nhìn nhận trong một tiến trình dài hơn.
Đó cũng là điều hấp dẫn bà ở khảo cổ học. Một mảnh gốm có thể đặt ra câu hỏi về đời sống, giao thương và sự giao thoa văn hóa. Một địa tầng có thể giúp điều chỉnh cách nhìn về một di tích.
Trong nghiên cứu, bà dành nhiều sự quan tâm đến đồ gốm Champa và những giai đoạn chuyển tiếp giữa các nền văn hóa. Bà muốn nhìn lịch sử từ những dấu tích của đời sống thường ngày.
Những nghiên cứu ấy được đúc kết trong nhiều công trình, trong đó có cuốn sách "Sa Huỳnh - Lâm Ấp - Chăm Pa thế kỷ 5 trước Công nguyên đến thế kỷ 5 sau Công nguyên - Một số vấn đề khảo cổ học" được trao Giải B giải thưởng sách quốc gia lần thứ hai năm 2019. Với bà, một công trình khoa học không phải điểm kết thúc. Kết quả nghiên cứu cần được đưa vào giảng dạy để sinh viên tiếp cận tri thức mới và tiếp tục đặt ra những câu hỏi mới.
Bước qua định kiến để giữ nghề
Khảo cổ học gắn với những chuyến đi dài ngày, những hố khai quật giữa nắng nóng và các địa bàn xa xôi. Vì vậy, phụ nữ bước vào nghề từng gặp không ít định kiến.
GS Mỹ Dung hiểu điều đó từ chính trải nghiệm của mình. Sau khi trở về nước, bà mất khoảng một năm rưỡi mới tìm được công việc ổn định bởi có nơi không nhận phụ nữ vì cho rằng nam giới thuận lợi hơn vì có thể xa nhà hàng tháng, không vướng bận...
Sự hỗ trợ của gia đình rất quan trọng. Nhưng phụ nữ không nhất thiết phải lựa chọn giữa gia đình và sự nghiệp. Có những giai đoạn con còn nhỏ, chưa thể đi xa, có thể tranh thủ học ngoại ngữ, đọc tài liệu hoặc nghiên cứu. Khi điều kiện cho phép, lại trở về với những chuyến điền dã. Điều quan trọng là không để mình "rơi khỏi nghề".
GS Lâm Thị Mỹ Dung
Theo GS Mỹ Dung, khảo cổ học còn đòi hỏi nghiên cứu hiện vật, xử lý tư liệu, viết báo cáo, xuất bản, giảng dạy và quản lý di sản. Ở những công việc ấy, giới tính không quyết định năng lực của một nhà khoa học.
Dẫu vậy, bà thừa nhận phụ nữ làm nghề khảo cổ phải đối mặt với một bài toán khó là làm sao để chăm sóc chu toàn cho gia đình, con cái. Những năm con còn nhỏ, bà vẫn phải vào miền Trung công tác, có chuyến kéo dài một tháng, thậm chí hơn. Gia đình trở thành hậu phương, chồng, bố mẹ hai bên giúp chăm sóc các con còn nhỏ dại để bà yên tâm theo những chuyến đi.
"Truyền lửa" cho thế hệ sau
Gần nửa thế kỷ sau ngày chuyển sang khảo cổ học, sự tò mò của cô sinh viên năm nào vẫn còn đó. Bà thích cảm giác đứng trước một địa điểm chưa biết sẽ tìm thấy gì. Mỗi mảnh gốm có thể mở ra một câu hỏi. Một địa tầng có thể khiến người nghiên cứu phải xem xét lại một giả thuyết.
Nhưng sự tò mò thôi chưa đủ để theo nghề lâu dài. Với bà, người làm khoa học trước hết phải trung thực với tư liệu. Không được vì muốn chứng minh một giả thuyết mà bỏ qua những bằng chứng không phù hợp. Cũng không thể biến một phát hiện thành điều lớn hơn bản chất của nó.
Bà quan niệm người làm nghề phải có trách nhiệm với lĩnh vực mình theo đuổi. Nghề không chỉ là công việc mưu sinh, mà còn là trách nhiệm với tri thức và di sản.



GS Lâm Thị Mỹ Dung luôn nhắc nhở sinh viên: Người làm khoa học phải trung thực với tư liệu...
Có lẽ chính sự say mê và ý thức ấy đã giúp bà đi qua những nhọc nhằn của nghề. Gần nửa thế kỷ, bà vẫn tìm kiếm, nghiên cứu và đặt câu hỏi về những gì quá khứ để lại. Một phần quan trọng trong hành trình đó của GS.TS Lâm Thị Mỹ Dung là đào tạo những thế hệ khảo cổ học tiếp nối.
Từ cô sinh viên Việt Nam từng làm quen với những thuật ngữ khảo cổ bằng tiếng Bulgaria, tiếng Pháp, tiếng Nga... bà trở thành giảng viên của nhiều thế hệ sinh viên.
Bà đặc biệt coi trọng thực địa. Sinh viên không thể chỉ học khảo cổ từ sách. Họ phải tự đi, tự quan sát, tự ghi chép và tự khai quật. Họ cũng phải học cách làm việc với người dân địa phương, bởi khảo cổ học không thể tách khỏi cộng đồng nơi di sản tồn tại.
Có những năm ngành chỉ tuyển được vài sinh viên. Nhưng theo bà, những ngành đặc thù như khảo cổ học vẫn cần được đầu tư. Nếu một thế hệ không được đào tạo, khoảng trống ấy có thể kéo dài hàng chục năm.
Bà cũng tham gia xây dựng không gian bảo tàng tại trường. Những hiện vật được phân loại, nghiên cứu và đưa ra trưng bày, trở thành nguồn tư liệu trực quan cho sinh viên. Cùng với tủ sách chuyên ngành, nhật ký khai quật và những chuyến thực địa, đó là cách tri thức được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Nhìn lại hành trình của mình, GS.TS Lâm Thị Mỹ Dung hầu như không muốn nói về thành tựu như những cột mốc để tự hào. Bà nói nhiều hơn về những người thầy, đồng nghiệp, sinh viên và cộng đồng địa phương đã đồng hành cùng mình.

Bà tham gia nhiều hội thảo khoa học quốc tế
Từ lựa chọn của cô sinh viên Việt Nam gần nửa thế kỷ trước, GS Lâm Thị Mỹ Dung đã đi qua những vùng đất xa xôi, những hố khai quật dưới nắng nóng, mưa dầm và những năm tháng vừa làm mẹ vừa làm nghề.
Hôm nay, những thế hệ học trò của bà tiếp tục bước ra thực địa. Họ tiếp tục quan sát, ghi chép, khai quật và tìm kiếm những dấu tích mà thời gian để lại. Với bà, đó có lẽ là một trong những giá trị lớn nhất của một người làm khoa học, khi vừa tìm thấy những mảnh ghép của quá khứ, vừa truyền lửa đam mê nghề cho các thế hệ sau. Quan trọng hơn, bà để lại cho họ một cách làm nghề cẩn trọng, đi đến tận nơi, nhìn thật kỹ, ghi chép cẩn thận, tôn trọng tri thức cộng đồng và trung thực với tư liệu...
Email: