Khơi thông "nguồn lực bạc" - Bài 2: Bước chuyển tư duy từ trợ cấp sang bảo đảm quyền
Ảnh minh họa
Chỉ còn chưa đầy 1 thập kỷ trước khi Việt Nam trở thành xã hội già, việc sửa đổi Luật Người cao tuổi được kỳ vọng sẽ giải quyết các khoảng trống về việc làm, chăm sóc dài hạn và bảo vệ quyền lợi cho người lớn tuổi. Phóng viên Báo Phụ nữ Việt Nam đã có cuộc trao đổi với bà Phạm Thị Lan, Trưởng nhóm Dân số và Phát triển (UNFPA tại Việt Nam) về những bước chuyển tư duy lập pháp cấp thiết để biến thách thức già hóa thành động lực phát triển.
PV: Quốc hội đang xem xét cho ý kiến đối với dự thảo sửa đổi Luật Người cao tuổi. Theo bà, vì sao đây là thời điểm then chốt để Quốc hội điều chỉnh chính sách pháp luật đối với người cao tuổi, đặc biệt trong bối cảnh tốc độ già hóa dân số tại Việt Nam đang diễn ra nhanh chóng?
Bà Phạm Thị Lan: Quỹ Dân số Liên hợp quốc UNFPA hoan nghênh việc Quốc hội đang xem xét cho ý kiến đối với dự thảo sửa đổi Luật Người cao tuổi. Đây là thời điểm then chốt để tiếp tục cụ thể hóa đường lối, chính sách của Đảng về thích ứng với già hóa dân số, tăng cường hỗ trợ và bảo vệ cũng như phát huy vai trò của người cao tuổi, đáp ứng các nhu cầu đặt ra trong bối cảnh già hóa dân số đang diễn ra nhanh chóng, tiến tới hiện thực hóa các chuẩn mực quốc tế về quyền của người cao tuổi.
Theo dự báo dân số mới nhất, Việt Nam sẽ chính thức trở thành quốc gia "già" vào năm 2034 khi tỷ lệ dân số từ 65 tuổi trở lên đạt từ 14% trở lên, đồng thời kết thúc cơ cấu dân số vàng vào năm 2036. Chúng ta chỉ mất khoảng 23 năm để chuyển từ giai đoạn "già hóa" sang "dân số già", trong khi Pháp mất 115 năm và Thụy Điển 85 năm. Hiện nay, Việt Nam có khoảng 16,5 triệu người cao tuổi, chiếm khoảng 16% dân số, và con số này sẽ lên khoảng 18 triệu vào năm 2030.
Khi xã hội có số người cao tuổi gia tăng và tuổi thọ ngày càng cao, điều này sẽ mở ra những cơ hội mới để phát triển kinh tế bạc, tạo ra các ngành nghề và dịch vụ đáp ứng nhu cầu của người cao tuổi, phát huy tri thức, kinh nghiệm và sự đóng góp của họ, đồng thời thúc đẩy sự gắn kết và đoàn kết giữa các thế hệ. Nếu được hỗ trợ bởi các chính sách phù hợp, già hóa dân số có thể trở thành động lực cho đổi mới sáng tạo, tạo việc làm và phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

Bà Phạm Thị Lan, Trưởng nhóm Dân số và Phát triển (UNFPA tại Việt Nam)
Tuy nhiên, những cơ hội này chỉ có thể được hiện thực hóa khi chúng ta có các chính sách và hệ thống hỗ trợ phù hợp, bảo đảm người cao tuổi được sống khỏe mạnh, độc lập, có phẩm giá và có cơ hội tiếp tục đóng góp cho xã hội. Từ nay đến khi trở thành xã hội già, chúng ta chỉ còn khoảng 8 năm. Nếu không có sự chuẩn bị kịp thời, tốc độ già hóa dân số nhanh sẽ tạo áp lực ngày càng lớn lên hệ thống y tế, an sinh xã hội và chăm sóc dài hạn, đồng thời làm gia tăng gánh nặng chăm sóc không được trả công đối với gia đình, đặc biệt là phụ nữ.
Chúng ta đều biết, tuổi thọ trung bình của người Việt Nam là 74,7 năm, nhưng số năm sống khỏe chỉ khoảng 65,4 năm, nghĩa là trung bình mỗi người sống gần 10 năm với bệnh tật. Khoảng 60,9% người cao tuổi mắc từ ba bệnh mạn tính trở lên. Số người cao tuổi cần hỗ trợ trong sinh hoạt hằng ngày được dự báo tăng từ khoảng 4,7 triệu người năm 2025 lên 6,5 triệu người năm 2035. Trong khi đó, gia đình, nơi đang chăm sóc khoảng 99% người cao tuổi, lại ngày càng nhỏ hơn: Tỷ lệ người cao tuổi sống một mình đã tăng từ 9,7% năm 2009 lên 13,7% năm 2019. Luật Người cao tuổi năm 2009 được xây dựng trong một bối cảnh rất khác, khi gia đình đông con vẫn là chỗ dựa chính. Giả định đó không còn đúng hoàn toàn nữa do hiện nay quy mô gia đình thay đổi, người dân sinh ít con hơn trong khi di cư và đô thị hóa đang dần thay đổi cách thức chăm sóc người cao tuổi.
Trong bối cảnh chuyển đổi nhân khẩu học nhanh chóng, Đảng và nhà nước ta rất quan tâm đến công tác dân số, nhất là công tác người cao tuổi. Nghị quyết số 42-NQ/TW và Nghị quyết số 72-NQ/TW đã tạo nền tảng chính trị. Từ tháng 3/2025, Bộ Y tế quản lý đồng thời y tế, người cao tuổi và bảo trợ xã hội, lần đầu tiên tạo điều kiện để kết nối chăm sóc y tế với chăm sóc xã hội trong một đầu mối. Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 và Luật Dân số năm 2025 cũng vừa được ban hành. Luật Người cao tuổi sửa đổi chính là mắt xích để kết nối những chính sách này thành một hệ thống thống nhất, tạo nền tảng pháp lý quan trọng để bảo vệ và hỗ trợ người cao tuổi một cách toàn diện, đồng thời thích ứng kịp thời với quá trình biến đổi dân số đang diễn ra nhanh chóng như hiện nay.
Đặc biệt, kinh nghiệm của Đức, Nhật Bản hay Hàn Quốc cho thấy xây dựng một hệ thống chăm sóc dài hạn cần nhiều năm, từ công cụ đánh giá nhu cầu, đào tạo nhân lực đến thí điểm cơ chế tài chính. Nếu chúng ta không bắt đầu từ lần sửa đổi này, chu kỳ lập pháp tiếp theo có thể đến khi Việt Nam đã là xã hội già, và khi đó mọi điều chỉnh sẽ tốn kém và bị động hơn rất nhiều.

Việt Nam chỉ mất khoảng 23 năm để chuyển từ giai đoạn "già hóa" sang "dân số già"
PV: Đâu là những bất cập hoặc khoảng trống lớn nhất trong Luật Người cao tuổi hiện hành cần được Quốc hội tập trung thảo luận? Việc sửa đổi lần này cần chuyển đổi tư duy lập pháp ra sao, từ việc coi người cao tuổi là đối tượng trợ cấp thụ động sang việc phát huy vai trò và bảo vệ quyền lợi chính đáng của họ?
Bà Phạm Thị Lan: Luật Người cao tuổi được Quốc hội thông qua vào năm 2009. Sau 15 năm thực hiện, bối cảnh đã thay đổi đáng kể. Người cao tuổi ngày nay không còn giống với nhóm người cao tuổi của năm 2009. Họ sống thọ hơn. Nhu cầu của họ cũng đa dạng hơn. Quy mô gia đình đang có sự thay đổi. Di cư và đô thị hóa đang định hình lại các mối quan hệ giữa các thế hệ. Phụ nữ và nam giới trải nghiệm quá trình lão hóa theo những cách khác nhau.
Bên cạnh đó, nhu cầu về chăm sóc sức khỏe và chăm sóc dài hạn của người cao tuổi cũng đang gia tăng. Chính vì vậy, tôi cho rằng việc sửa đổi Luật người cao tuổi sẽ tạo cơ hội để giải quyết ba khoảng trống lớn nhất.
Thứ nhất, cần chuyển từ cách tiếp cận chủ yếu dựa vào trợ giúp và trách nhiệm phụng dưỡng của gia đình sang cách tiếp cận dựa trên quyền, bảo đảm người cao tuổi được sống độc lập, có phẩm giá và có quyền lựa chọn phù hợp với các Nguyên tắc của Liên hợp quốc về người cao tuổi.
Luật cần thể hiện rõ hơn người cao tuổi là chủ thể của quyền, có quyền lựa chọn nơi sống, cách sống, dịch vụ chăm sóc và tham gia vào những quyết định ảnh hưởng đến cuộc đời mình. Chính sách không nên chỉ tập trung vào nhóm người cao tuổi nghèo hoặc phụ thuộc, mà cần đáp ứng nhu cầu đa dạng của tất cả người cao tuổi, đồng thời ưu tiên những người có nguy cơ bị bỏ lại phía sau.
Thứ hai, Luật cần tạo nền tảng pháp lý cho một hệ thống chăm sóc toàn diện, có chất lượng và bền vững về tài chính, trong đó trách nhiệm chăm sóc được chia sẻ hợp lý giữa Nhà nước, gia đình, cộng đồng và khu vực tư nhân, thay vì đặt gánh nặng chủ yếu lên gia đình và phụ nữ. Nhà nước nên chuyển từ vai trò trực tiếp cấp phát sang vai trò kiến tạo: Đặt chuẩn, đặt hàng, mua dịch vụ và giám sát chất lượng.
Nguyên tắc nên là luật hóa trước các nền tảng như khái niệm, quyền, công cụ đánh giá và tiêu chuẩn, sau đó mở rộng cơ chế tài chính theo lộ trình dựa trên bằng chứng thí điểm. Hiện nay các chính sách vận hành theo những logic khác nhau: Luật Người cao tuổi quy định trách nhiệm phụng dưỡng của gia đình, trợ giúp xã hội dựa vào độ tuổi và hoàn cảnh nghèo, y tế tập trung vào khám chữa bệnh. Các chính sách này chưa kết nối thành một chế độ chăm sóc chuyên nghiệp, có đánh giá nhu cầu, kế hoạch dịch vụ, cơ chế tài chính và kiểm soát chất lượng. Trách nhiệm bị chia cắt, nhưng cuối cùng lại dồn về gia đình.
Đối với lĩnh vực chăm sóc, các vấn đề cần được ưu tiên trong quá trình sửa đổi Luật bao gồm: (1) Xác định căn cứ hưởng chính sách - thay vì coi đối tượng chăm sóc chủ yếu theo tuổi hoặc diện nghèo, Luật cần chuyển sang xác định quyền được chăm sóc theo mức độ suy giảm chức năng, với một công cụ đánh giá nhu cầu thống nhất trên toàn quốc;
(2) Làm rõ khái niệm và cơ chế cho chăm sóc dài hạn - Luật sửa đổi nên có một chương riêng về chăm sóc dài hạn, với ba tuyến chăm sóc tại nhà, tại cộng đồng và tại cơ sở, trong đó ưu tiên chăm sóc tại nhà và cộng đồng;
(3) Xác định quyền của người được chăm sóc - Luật cần ghi nhận quyền tự quyết định, lựa chọn hình thức chăm sóc, quyền được thông tin và khiếu nại, và bảo vệ người cao tuổi trước tình trạng bỏ mặc, ngược đãi, chiếm đoạt tài sản hay lừa đảo trực tuyến;
(4) Thừa nhận và chuyên nghiệp hóa nghề chăm sóc - hiện nay việc chăm sóc người cao tuổi chủ yếu phụ nữ đảm nhận trong gia đình - là việc không được trả công, nghề chăm sóc người cao tuổi chưa có trong danh mục nghề nghiệp; cả nước mới có khoảng 1.800 nhân viên y tế được đào tạo về lão khoa;
(5) Làm rõ vai trò của người cao tuổi - Các quy định về phát huy vai trò còn mang tính khuyến khích, thiếu cơ chế cụ thể về việc làm, học tập suốt đời và chống phân biệt đối xử theo tuổi.

Người cao tuổi ngày nay không còn giống với nhóm người cao tuổi của năm 2009. Họ sống thọ hơn. Nhu cầu của họ cũng đa dạng hơn.
Thứ ba, cần mở rộng cơ hội để người cao tuổi tiếp tục sống khỏe mạnh, bảo đảm an ninh thu nhập, tham gia thị trường lao động và đóng góp cho xã hội. Nhu cầu của người cao tuổi không chỉ dừng ở khám và điều trị bệnh. Nhiều người cần quản lý bệnh mạn tính, phục hồi chức năng, hỗ trợ sức khỏe tâm thần, phòng ngừa suy giảm chức năng và chăm sóc giảm nhẹ.
Vì vậy, cần tăng cường kết nối giữa y tế và dịch vụ xã hội, giữa bệnh viện, y tế cơ sở, gia đình và cộng đồng; đồng thời bảo đảm dịch vụ phù hợp với mức độ tự lập và nhu cầu chăm sóc của từng người. Mục tiêu cần hướng tới không chỉ là kéo dài tuổi thọ, mà còn giúp người cao tuổi duy trì sức khỏe, khả năng tự chủ và chất lượng cuộc sống lâu nhất có thể.
Khi tuổi thọ tăng, nhu cầu bảo đảm thu nhập ổn định trong tuổi già cũng tăng lên. Luật sửa đổi cần được rà soát đồng bộ với pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và trợ giúp xã hội, nhằm mở rộng khả năng tiếp cận các chính sách cho người cao tuổi, nhất là những người không có lương hưu, người làm việc trong khu vực phi chính thức, người cao tuổi nghèo và những người sống đơn thân.
Bên cạnh trợ cấp xã hội, cần thúc đẩy các cơ chế bảo vệ người cao tuổi trước nguy cơ nghèo đói, chi phí y tế và chi phí chăm sóc dài hạn cao, bảo đảm an ninh tài chính trong suốt vòng đời.
Luật đã ghi nhận vai trò của người cao tuổi, nhưng cần thúc đẩy mạnh mẽ hơn cơ hội việc làm phù hợp, học tập suốt đời, nâng cao kỹ năng số, khởi nghiệp và tham gia hoạt động cộng đồng. Các quy định cũng cần góp phần giảm định kiến tuổi tác, tạo điều kiện để những người còn khả năng và mong muốn tiếp tục làm việc, cống hiến.
Đây cũng là cơ sở để phát triển kinh tế bạc - các sản phẩm, dịch vụ, việc làm và mô hình kinh doanh đáp ứng nhu cầu của xã hội già hóa. Qua đó biến một phần thách thức nhân khẩu học thành cơ hội phát triển kinh tế - xã hội.

Theo ước tính, khoảng 33,63% người cao tuổi Việt Nam vẫn đang làm việc, và theo ADB (2024) "lợi tức bạc" từ năng lực lao động chưa được khai thác của người cao tuổi có thể giúp GDP Việt Nam tăng thêm khoảng 1,1%.
PV: Người cao tuổi hiện nay có trình độ, kinh nghiệm và mong muốn tiếp tục đóng góp cho xã hội. Khung pháp lý trình Quốc hội xem xét cần tạo cơ chế ra sao để khuyến khích việc làm phù hợp, học tập suốt đời và ghi nhận sự đóng góp của người cao tuổi trong nền kinh tế số?
Bà Phạm Thị Lan: Việt Nam hiện đang có khoảng 16 triệu người cao tuổi. Trong bối cảnh già hóa dân số, lực lượng người cao tuổi ngày càng tăng. Chúng ta đều biết người cao tuổi ngày nay không còn giống như người cao tuổi trước đây. Theo ước tính, khoảng 33,63% người cao tuổi Việt Nam vẫn đang làm việc, và theo ADB (2024) "lợi tức bạc" từ năng lực lao động chưa được khai thác của người cao tuổi có thể giúp GDP Việt Nam tăng thêm khoảng 1,1%. Hội Người cao tuổi có 10,8 triệu hội viên và hơn 9.000 Câu lạc bộ Liên thế hệ tự giúp nhau, một mạng lưới tự tổ chức cấp cộng đồng mà rất ít quốc gia có được. Người cao tuổi còn đóng góp rất lớn qua những công việc không được trả công như chăm sóc cháu, chăm sóc vợ hoặc chồng, hay làm tình nguyện tại cộng đồng.
Tuy nhiên, cần nhìn thẳng vào thực tế: Phần lớn lao động cao tuổi đang làm việc trong nông nghiệp và khu vực phi chính thức, không có hợp đồng hay bảo hiểm. Với nhiều người, đi làm ở tuổi già là để mưu sinh chứ không phải lựa chọn. Vì vậy, phát huy vai trò người cao tuổi không có nghĩa là kéo dài tuổi lao động bằng mọi giá, mà là bảo đảm họ được làm việc khi có mong muốn, trong điều kiện phù hợp với sức khỏe, và không bị bỏ lại trong nền kinh tế số. Trên tinh thần đó, tôi đề xuất 4 nhóm cơ chế cần được xem xét trong dự thảo Luật Người cao tuổi sửa đổi.

Luật Người cao tuổi sửa đổi cần kết nối với quy định về chủ động chuẩn bị cho tuổi già trong Luật Dân số năm 2025
Thứ nhất, khẳng định quyền làm việc và chống phân biệt tuổi tác. Luật cần quy định rõ quyền lao động của người cao tuổi và cấm phân biệt đối xử theo tuổi trong tuyển dụng, đào tạo và chấm dứt hợp đồng, đồng bộ với Bộ luật Lao động. Cần khuyến khích các hình thức lao động linh hoạt có bảo vệ như bán thời gian, theo dự án, làm việc từ xa, cùng với bảo hiểm tai nạn lao động phù hợp, và có ưu đãi về thuế, tín dụng cho doanh nghiệp sử dụng lao động cao tuổi cũng như cho người cao tuổi khởi nghiệp.
Thứ hai, đảm bảo cơ hội học tập suốt đời và kỹ năng số. Học tập suốt đời cần trở thành một quyền của người cao tuổi và phải gắn với trách nhiệm cụ thể của chính quyền địa phương chứ không chỉ dừng ở khuyến khích. Các trung tâm học tập cộng đồng và Câu lạc bộ Liên thế hệ tự giúp nhau có thể trở thành nơi đào tạo kỹ năng số, kỹ năng tài chính và kỹ năng an toàn trên môi trường mạng, nơi người trẻ hỗ trợ người cao tuổi và ngược lại. Đồng thời, dịch vụ công số phải thân thiện với người cao tuổi và luôn có kênh tiếp cận trực tiếp cho những người không sử dụng công nghệ.
Thứ ba, ghi nhận đóng góp. Những gì không được đo lường sẽ không được ghi nhận trong chính sách. Nhà nước cần định kỳ đo lường giá trị đóng góp của người cao tuổi, kể cả công việc chăm sóc và tình nguyện không được trả công, thông qua điều tra sử dụng thời gian (time use survey), đồng thời tạo cơ chế để người cao tuổi tham gia tư vấn, truyền nghề và góp ý chính sách ở cơ sở. Các vấn đề này cần được cụ thể hóa trong Luật Người cao tuổi sửa đổi.
Thứ tư, chuẩn bị cho tuổi già từ tuổi trung niên. Khả năng làm việc sau tuổi nghỉ hưu được quyết định bởi sức khỏe, kỹ năng và tích lũy từ sớm, đặc biệt là từ giai đoạn tuổi 40-50. Luật Người cao tuổi sửa đổi cần kết nối với quy định về chủ động chuẩn bị cho tuổi già trong Luật Dân số năm 2025, thông qua đảm bảo khám sức khỏe định kỳ, đào tạo lại nghề và có chính sách hỗ trợ người lao động làm việc trong lĩnh vực phi chính thức tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện. Đầu tư cho phòng ngừa luôn rẻ hơn rất nhiều so với chi phí điều trị và chăm sóc về sau.
PV: Xin cảm ơn bà!
Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI khai mạc vào ngày 17/10/2026, dự kiến bế mạc vào ngày 21/11/2026 tại Hà Nội. Kỳ họp này sẽ xem xét, thông qua 43 dự án luật và nghị quyết quy phạm pháp luật.
Theo chương trình Kỳ họp, trong phiên họp chiều ngày 9/11/2026, Quốc hội sẽ thảo luận tại hội trường về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người cao tuổi, tập trung vào 3 trụ cột chính sách trọng tâm do Bộ Y tế đề xuất. Trụ cột thứ nhất là bảo đảm an sinh xã hội, an ninh thu nhập và tiếp cận dịch vụ cơ bản, trọng tâm vào việc mở rộng đối tượng hưởng trợ cấp hưu trí xã hội, hướng tới phủ sóng 100% bảo hiểm y tế và hỗ trợ việc làm, kỹ năng số. Trụ cột thứ hai là phát triển hệ thống chăm sóc dài hạn toàn diện, nâng cao năng lực nhân lực và ưu tiên các mô hình chăm sóc dựa vào gia đình, cộng đồng. Trụ cột thứ ba là phát triển "kinh tế bạc" thông qua các chính sách ưu đãi về thuế, đất đai, tín dụng ưu đãi, thúc đẩy thị trường lao động linh hoạt và tạo điều kiện cho người cao tuổi khởi nghiệp.