Ký sự La Lay - Bài 2: Những "vòng tay nối dài" giữ nhịp tuổi thơ
Cán bộ Hội LHPN tỉnh Quảng Trị và xã La Lay tuyên truyền cho các học sinh về bình đẳng giới. Ảnh: T.T
Phía sau những cuộc gọi vội vã qua màn hình điện thoại từ xứ người là những đứa trẻ vùng cao La Lay (tỉnh Quảng Trị) đang lớn lên cùng ông bà già yếu. Khi miếng cơm manh áo buộc cha mẹ phải rời xa bản làng, những người thầy cắm bản, cán bộ Hội LHPN cơ sở và cộng đồng đang trở thành những “vòng tay nối dài”, bền bỉ giữ nhịp tuổi thơ cho các em giữa đại ngàn.
19 giờ, sau những hồi chuông dài, đầu dây bên kia kịp vang lên hai tiếng: "Mẹ đây!". Âm thanh ngắn ngủi đủ khiến đứa trẻ ở bản Ty Nê đang ăn cơm vội buông bát, cầm lấy điện thoại. Cuộc gọi sau một ngày dài mệt mỏi của người mẹ nơi xứ người chỉ kịp hỏi tình hình mưa lũ ở quê, chuyện học hành của con rồi lại vội vàng khép lại.
"Bố mẹ ở xa nhưng trường học không được cách xa"
Tại xã La Lay, trường Tiểu học và Trung học cơ sở (TH&THCS) A Bung hiện có 792 học sinh với 31 lớp; trong đó 768 em, chiếm 97%, là con em đồng bào Pa Kô, Vân Kiều. Một con số thống kê từ cuộc rà soát gần nhất của nhà trường khiến chúng tôi không khỏi trăn trở: có tới 182 học sinh có cha hoặc mẹ, thậm chí cả cha và mẹ đi làm ăn xa. Cụ thể, 75 em vắng cha, 53 em vắng mẹ và 54 em đang phải sống trong cảnh vắng bóng cả hai đấng sinh thành.
Ông Lê Minh Ái, Hiệu trưởng Trường TH&THCS A Bung, trầm ngâm chia sẻ về thực tế giáo dục nơi vùng cao biên giới: "Thiệt thòi lớn nhất của các em không hẳn là manh áo, chén cơm, mà là sự thiếu vắng người đồng hành, chia sẻ trong cuộc sống và học tập hằng ngày. Ở vùng khó này, ông bà chăm cháu dẫu thương yêu bao nhiêu thì tuổi cao, sức yếu và những rào cản nhận thức cũng khiến việc kiểm tra bài vở, uốn nắn nền nếp gặp rất nhiều hạn chế. Có những em học sinh chúng tôi theo dõi, khi thiếu người nhắc nhở thì chuyên cần bắt đầu bấp bênh, giờ tự học bị lơ là, gặp vướng mắc tâm lý thì khép kín, không chịu giải bày cùng ai".
Thế nhưng, thầy Ái cũng nhấn mạnh quan điểm xuyên suốt của tập thể sư phạm nhà trường đó là không bao giờ "dán nhãn" hay định kiến lên nhóm học sinh này. Bố mẹ đi làm xa không đồng nghĩa với việc đứa trẻ đó sẽ học kém hay cá biệt. Vấn đề cốt lõi là các em có nhận được sự nâng đỡ, kết nối kịp thời từ người lớn hay không.

Ông Lê Minh Ái (bìa phải), Hiệu trưởng Trường TH&THCS A Bung và đại diện các đơn vị tài trợ cùng các em học sinh trải nghiệm phòng học chức năng. Ảnh: Nhà trường cung cấp
Để giữ chân học trò và duy trì tỷ lệ chuyên cần, các thầy cô giáo nơi đây đã xây dựng một cơ chế phối hợp ba bên rất chặt chẽ: Giáo viên chủ nhiệm - Người nuôi dưỡng tại bản - Cha mẹ ở xa. Dù cha mẹ ở tận Bình Dương, TPHCM hay đi xuất khẩu lao động, giáo viên đều lưu lại số liên lạc, lập nhóm trao đổi định kỳ. Bất cứ khi nào học sinh có biểu hiện bất thường như nghỉ học không lý do, kết quả kiểm tra sa sút hay tâm lý bỗng dưng lầm lì, giáo viên lập tức tìm hiểu nguyên nhân, đến tận nhà thăm hỏi và gọi điện thông báo ngay cho phụ huynh.
"Nhà trường xác định phải hỗ trợ sớm, chứ không chờ đến khi các em chán nản, có nguy cơ bỏ học mới vận động. Hơn ai hết, chúng tôi luôn cố gắng dành cho các em sự quan tâm như người ruột thịt, dạy cho các em phương pháp tự học và hỗ trợ khi cần. Bố mẹ các em có thể ở cách xa hàng ngàn cây số, nhưng sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường thì tuyệt đối không được để có khoảng cách", thầy Ái khẳng định.
Ở nơi biên giới còn nhiều khó khăn, chính sự tận tụy của những người thầy, người cô trên bục giảng đã trở thành điểm tựa vững chãi, níu giữ hàng trăm bước chân học trò nghèo không gãy gánh giữa đường.
Những "vòng tay" từ cộng đồng
Rời mái trường A Bung, chúng tôi theo chân cán bộ Hội LHPN xã La Lay đến các cụm dân cư thuộc thôn A Rong, A Ngo. Nếu nhà trường là nơi giữ gìn nền nếp học tập thì tổ chức Hội lại là nơi nâng niu, chăm chút những góc khuất tâm lý đời thường của những đứa trẻ thiếu mẹ.
Theo chị Hồ Căn Mom, Chi hội trưởng Chi hội Phụ nữ thôn A Rong, xã La Lay, những đứa trẻ vắng bóng cha mẹ thường mang tâm lý rụt rè, tự ti rất rõ. Có những em gặp người lạ chỉ cúi gằm mặt xuống đất, hỏi gì đáp nấy, ánh mắt luôn lảng tránh. Để đứa trẻ chịu mở lòng, cán bộ Hội phải kiên trì ngồi hàng giờ, vừa cùng nhặt rau, nhóm bếp, vừa rủ rỉ tâm tình như một người mẹ, người dì.
Những năm gần đây, thông qua Dự án 8 "Thực hiện bình đẳng giới và giải quyết những vấn đề cấp thiết đối với phụ nữ và trẻ em" thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhiều mô hình hỗ trợ phụ nữ, trẻ em được triển khai tại cơ sở. Các Tổ truyền thông cộng đồng, Câu lạc bộ "Thủ lĩnh của sự thay đổi", Địa chỉ tin cậy tại cộng đồng… đã tạo thêm những kênh để tuyên truyền, chia sẻ kiến thức, kỹ năng và phát hiện những vấn đề cần được hỗ trợ.
Cùng với đó, các hoạt động phối hợp với Tổ chức Plan International trong Chương trình "Bình đẳng giới và nâng cao vị thế cho phụ nữ và trẻ em gái dân tộc thiểu số tại Quảng Trị" góp phần nâng cao kiến thức, kỹ năng truyền thông, hỗ trợ chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên cho cán bộ, giáo viên; đồng thời trang bị thêm kiến thức, kỹ năng cho nữ thanh niên dân tộc thiểu số trong chuẩn bị việc làm, tham gia thị trường lao động và quản lý tài chính cá nhân.
Đáng chú ý, mô hình nhóm Cha mẹ có con từ 0 - 18 tuổi (nhóm Cha mẹ U18), được thành lập tại 14 xã trên địa bàn tỉnh, tạo không gian để cha mẹ, ông bà và người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ cùng trao đổi những vấn đề gần gũi trong quá trình chăm sóc, giáo dục con. Tại đây, những câu chuyện tưởng chừng chỉ là việc nội bộ của mỗi nhà - như làm sao để nhận biết con bị khủng hoảng tâm lý tuổi dậy thì, hướng dẫn trẻ tự bảo vệ trước nguy cơ xâm hại, hay cách sử dụng điện thoại thông minh an toàn - đã được đưa ra để cả cộng đồng cùng thảo luận, chia sẻ kinh nghiệm và tìm cách tháo gỡ.

Hội LHPN tỉnh Quảng Trị tập huấn, chia sẻ về các phương thức giáo dục, nuôi dạy trẻ em thông qua mô hình Cha mẹ có con từ 0 - 18 tuổi. Ảnh: Hội LHPN tỉnh Quảng Trị
Chị Hồ Thị Thêu, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam, Chủ tịch Hội LHPN xã La Lay, bộc bạch: "Trước đây, nhiều ông bà ở bản thấy cháu gái đến tuổi lớn mà vắng mẹ thì rất lúng túng, không biết chỉ dạy chuyện ăn nết ở hay vệ sinh thân thể. Thông qua các buổi sinh hoạt, cán bộ Hội đã đến tận nhà 'cầm tay chỉ việc', trang bị kỹ năng sống cho các cháu và tiếp sức cho người nuôi dưỡng. Chúng tôi cố gắng bù đắp phần nào sự thiếu hụt tình cảm, giúp các em tự tin bước vào đời".
Dẫu vậy, từ góc nhìn cơ sở, chị Thêu cũng trăn trở, bên cạnh việc hỗ trợ con trẻ ở lại, điều căn cơ là phải trang bị kiến thức, kỹ năng cho chính các bậc cha mẹ trước lúc rời quê. Bởi khoảng cách địa lý không đồng nghĩa với khoảng cách trong trách nhiệm; người lao động cần biết cách kết nối với con từ xa, nhận biết chuyển biến tâm lý của trẻ và giữ mối liên lạc chặt chẽ với nhà trường, người thân để việc bươn chải nơi đất khách thực sự đem lại tương lai tốt đẹp hơn cho con mình.
Nghịch lý của bài toán mưu sinh
Thế nhưng, những "vòng tay nối dài" ấy cũng chạm tới một nghịch lý đầy day dứt: sự hỗ trợ của nhà trường và đoàn thể dẫu tận tâm đến đâu vẫn khó lòng khỏa lấp khoảng trống mà những cuộc ly hương để lại.
Nghịch lý ấy hiện rõ nhất trong câu chuyện của chị Hồ Thị N. Đưa chúng tôi đến gặp chị N., lãnh đạo Hội LHPN xã La Lay cho biết chị N. từng là một hội viên năng nổ, cùng các chị đến từng nếp nhà an ủi những đứa trẻ thiếu mẹ ngóng cha. Chứng kiến ánh mắt buồn tủi của bạn bè con mình, chị N. từng tự nhủ sẽ bằng mọi giá bám bản, không bao giờ để con phải chịu cảnh bơ vơ. Thế nhưng, khi biến cố ập đến khiến chị mất việc làm, gánh nặng cơm áo và tương lai học hành của các con lại dồn chị vào chân tường. Sau chuỗi ngày dài đắn đo, rốt cuộc vợ chồng chị vẫn phải nuốt nước mắt đưa ra quyết định mà mình từng sợ nhất: gửi con lại cho ông bà để vào thành phố tìm việc.
Chỉ khi chính người trong cuộc - người từng nỗ lực đi dang tay chở che cho con cái người khác - cuối cùng cũng không thể tự che chở cho gia đình nhỏ của mình trước cơn lốc mưu sinh, tình huống càng trở nên giằng xé: đi thì đứt ruột thương con, nhưng ở lại thì bế tắc trong cái nghèo.
Chính vì vậy, những "vòng tay nối dài" của thầy cô cắm bản hay cán bộ Hội cơ sở dẫu ấm áp đến nhường nào cũng chỉ có thể là giải pháp tình thế. Nhà trường có thể níu giữ bước chân học trò không bỏ lớp. Đoàn thể có thể trang bị cho các em kỹ năng tự bảo vệ mình trước cám dỗ. Gian bếp của ông bà mỗi chiều vẫn có thể nghi ngút khói cơm. Nhưng tuyệt nhiên không một tổ chức, cá nhân nào có thể thay thế trọn vẹn vị trí của người cha, người mẹ trong suốt hành trình khôn lớn của một đứa trẻ.
Chừng nào gốc rễ của bài toán sinh kế và việc làm tại chỗ chưa tìm được lời giải căn cơ, thì chừng đó, mọi nỗ lực xã hội dẫu có dang rộng đến đâu cũng chỉ dừng lại ở sự đỡ đần, san sẻ tạm thời - chưa thể vá lành những khoảng trống tuổi thơ giữa đại ngàn
(Còn tiếp)