Làng gốm cổ Kim Lan - Dấu ấn nghìn năm bên sông Hồng
Thợ gốm làng Kim Lan
Nằm bên tả ngạn sông Hồng, làng gốm cổ Kim Lan (xã Bát Tràng, Hà Nội) lưu giữ dấu tích của một trung tâm sản xuất gốm sứ từng phát triển mạnh từ nhiều thế kỷ trước. Ngày nay, người dân nơi đây đang nỗ lực bảo tồn di sản khảo cổ, duy trì nghề truyền thống và tìm hướng phát triển sinh kế từ những giá trị văn hóa của quê hương.
Làng gốm nghìn năm tuổi
Nhắc đến những làng gốm nổi tiếng của Hà Nội, nhiều người thường nghĩ đến Bát Tràng. Nhưng cách đó không xa, bên kia kênh Bắc Hưng Hải, Kim Lan cũng là địa danh có lịch sử lâu đời, gắn với nghề gốm và đời sống cư dân vùng đồng bằng sông Hồng.
Cụ Nguyễn Việt Hồng, 90 tuổi, người đã dành gần trọn cuộc đời gắn bó với nghề gốm, cho biết, mỗi mùa lũ, dòng sông Hồng gây sạt lở bờ bãi làm lộ ra những mảnh gốm sứ, gạch cổ và vật liệu xây dựng tích tụ qua nhiều thế kỷ.

Cụ Nguyễn Việt Hồng giới thiệu hiện vật trưng bày tại Bảo tàng gốm Kim Lan
Từ những năm 1960, người dân địa phương đã thu gom, lưu giữ hàng nghìn hiện vật tìm thấy ở bãi sông. Giai đoạn 2001-2003, Viện Khảo cổ học, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam cùng cố TS. Nishimura Masanari (Nhật Bản) khai quật di chỉ Bãi Hàm Rồng, góp phần làm sáng tỏ lịch sử cư trú và sản xuất tại Kim Lan qua nhiều thời kỳ.
Hiện vật khảo cổ cho thấy dấu tích cư trú ở đây có từ khoảng thế kỷ II-III. Đến thế kỷ IX-X, Kim Lan có hoạt động sản xuất vật liệu xây dựng phục vụ việc đắp thành Đại La. Đáng chú ý, những viên gạch xám in nổi chữ Hán "Giang Tây quân" tìm thấy tại đây có nét tương đồng với gạch ở Hoàng thành Thăng Long, gợi mở mối liên hệ giữa hoạt động sản xuất tại Kim Lan với quá trình hình thành kinh thành xưa.
Đến thời Lý - Trần, đặc biệt trong các thế kỷ XIII-XIV, dấu tích sản xuất gốm sứ càng rõ nét. Bao nung, con kê và phế phẩm cho thấy người thợ Kim Lan từng chế tác các dòng gốm men ngọc, men nâu, hoa nâu. Một số hiện vật mang ký hiệu chữ "Quan", gợi khả năng liên quan đến hoạt động cung ứng sản phẩm cho triều đình. Hoa văn tương đồng với gốm tìm thấy tại Philippines và Indonesia cũng mở ra khả năng sản phẩm nơi đây từng tham gia mạng lưới giao thương rộng hơn.

Ông Nguyễn Chí Phương, Chủ nhiệm CLB Nghệ nhân thợ giỏi làng gốm Kim Lan, cùng những mảnh gốm vừa phát lộ tại công trình nạo vét sông Bắc Hưng Hải vào tháng 10/2026
Những phát hiện này góp phần xác định vị trí của Kim Lan trong lịch sử thủ công nghiệp vùng Thăng Long, đồng thời phản ánh kỹ thuật chế tác và các mối liên hệ kinh tế, văn hóa của cư dân trong quá khứ.
Tuy nhiên, nghề gốm ở Kim Lan không phát triển liên tục. Theo tư liệu Hán Nôm lưu giữ tại địa phương, nghề dần mai một vào cuối thế kỷ XVIII do nguồn đất sét cạn kiệt và dòng sông Hồng đổi dòng. Người dân chuyển sang làm nông nghiệp. Đến cuối những năm 1970, nghề gốm mới được khôi phục nhờ nỗ lực của một số người cao tuổi trong làng cùng sự hỗ trợ của các nhà khoa học.
Giữ bản sắc gốm Kim Lan
Gốm Kim Lan gồm những sản phẩm phục vụ đời sống như chum, vại, bình, chậu cảnh, ngói, lư hương, chén, bát… Sản phẩm chú trọng công năng, có hình thức mộc mạc, gần gũi với sinh hoạt thường ngày.
Để làm ra sản phẩm đạt yêu cầu, người thợ phải thành thạo nhiều công đoạn, từ chọn và xử lý đất, tạo hình, pha men đến nung lò. Kinh nghiệm nhận biết chất đất, điều chỉnh men và kiểm soát nhiệt độ được tích lũy qua nhiều năm thực hành, khó truyền đạt đầy đủ chỉ bằng lý thuyết.
Theo ông Nguyễn Chí Phương, Chủ nhiệm CLB Nghệ nhân thợ giỏi làng gốm Kim Lan, điều khiến những người làm nghề trăn trở là làm sao truyền tình yêu nghề cho thế hệ sau. Ông chia sẻ: "Chúng tôi mong mỏi làm sao truyền được ngọn lửa yêu nghề, giúp thế hệ trẻ hiểu được giá trị lịch sử của từng lớp men, từng thớ đất, từ đó tự hào và chủ động sáng tạo trên nền tảng truyền thống".

Phụ nữ Kim Lan vẽ hoa văn trên gốm
Đây là thách thức trong bối cảnh đô thị hóa và thay đổi sinh kế. Nghề gốm đòi hỏi sự kiên nhẫn, kỹ năng và thời gian tích lũy, trong khi sản phẩm phải cạnh tranh với hàng công nghiệp và thị hiếu tiêu dùng ngày càng đa dạng. Số hộ làm gốm không còn nhiều như trước, khiến nguy cơ mai một kinh nghiệm chọn đất, pha men, tạo dáng và nung gốm ngày càng rõ.
Tháng 1/2026, 21 nghệ nhân gốm sứ Kim Lan được vinh danh với các danh hiệu như Nghệ nhân Ưu tú, Nghệ nhân Hà Nội, Nghệ nhân Nghề Việt Nam và Nghệ nhân Quốc gia. Đây là sự ghi nhận đóng góp của những người giữ nghề, đồng thời khẳng định vai trò của nghệ nhân trong việc bảo tồn tri thức truyền thống.
Thành lập năm 2012, Bảo tàng Gốm sứ cộng đồng Kim Lan hiện lưu giữ hàng trăm hiện vật cổ do người dân đóng góp. CLB Nghệ nhân thợ giỏi với 35 thành viên cũng duy trì kỹ thuật truyền thống, nghiên cứu cải tiến sản phẩm và phục dựng các dòng men cổ như men ngọc, men nâu, men tràm.


Trẻ nhỏ hào hứng với việc tự tay làm gốm tại làng Kim Lan
CLB còn phối hợp với các cơ sở giáo dục tổ chức tham quan, trải nghiệm làm gốm cho học sinh và du khách. Hoạt động này tạo cơ hội để người trẻ tìm hiểu lịch sử làng nghề, đồng thời giúp nghệ nhân trực tiếp truyền dạy kỹ thuật.
Đổi mới công nghệ cũng là hướng đi cần thiết để nâng cao chất lượng sản phẩm và giảm tác động đến môi trường. Theo Nghệ nhân Ưu tú Đào Việt Bình, Chủ tịch Hội Gốm sứ Kim Lan, làng hiện có 424 lò gas, 70 lò điện và 4 lò đốt than theo công nghệ cũ. Lò gas, lò điện giúp kiểm soát nhiệt độ tốt hơn, giảm khói bụi và nâng cao hiệu quả sản xuất. Một số sản phẩm của làng đã đạt chứng nhận OCOP 4 sao.

Nghệ nhân Ưu tú Đào Việt Bình, Chủ tịch Hội Gốm sứ Kim Lan
Tuy vậy, đổi mới cần đi cùng việc giữ gìn những kỹ thuật tạo nên bản sắc gốm Kim Lan. Mục tiêu không chỉ là duy trì sản xuất mà còn bảo đảm tri thức nghề tiếp tục được thực hành và trao truyền.
Bảo tồn làng cổ, mở hướng du lịch
Giá trị của Kim Lan không chỉ nằm ở hiện vật khảo cổ hay sản phẩm gốm. Làng còn có đình, chùa, miếu, những con ngõ nhỏ và các không gian gắn với đời sống tín ngưỡng, sinh hoạt cộng đồng. Cùng với nghề gốm, những yếu tố này tạo nên diện mạo văn hóa được hình thành qua nhiều thế hệ.
Vì vậy, bảo tồn Kim Lan không thể chỉ dừng ở việc giữ sản phẩm hay duy trì một số lò nung, mà cần gắn với bảo vệ không gian làng cổ, khu vực có giá trị khảo cổ và tư liệu về lịch sử địa phương. Hiện vật tại Bãi Hàm Rồng, tư liệu Hán Nôm, ký ức người cao tuổi và kinh nghiệm nghệ nhân cần được ghi chép, kiểm chứng, số hóa, lưu trữ có hệ thống để phục vụ nghiên cứu, trưng bày và giáo dục. Việc tổ chức sản xuất, đón khách cũng cần phù hợp với cảnh quan và sinh hoạt của cư dân.


Đình và chùa Kim Lan
Việc Kim Lan được công nhận là Điểm du lịch của Hà Nội năm 2024 và nghề gốm Kim Lan được vinh danh Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia năm 2025 mở thêm cơ hội kết nối bảo tồn với phát triển du lịch. Du khách có thể tìm hiểu di chỉ Bãi Hàm Rồng, tham quan bảo tàng cộng đồng, nghe nghệ nhân kể chuyện nghề, quan sát quy trình sản xuất và trực tiếp thử tạo hình gốm.

Nghệ nhân Phạm Văn Nguyên
Nếu được tổ chức hợp lý, những trải nghiệm này giúp du khách hiểu hơn về lịch sử Kim Lan, từ dấu tích sản xuất thời Lý - Trần đến giai đoạn nghề mai một và quá trình khôi phục từ cuối những năm 1970. Việc kết nối hiện vật, không gian làng cổ và câu chuyện của người thợ cũng tạo nét riêng cho điểm đến, thay vì chỉ tập trung vào tham quan, mua sắm.
Theo Nghệ nhân Phạm Văn Nguyên, doanh thu bình quân của các cơ sở sử dụng lò nung hiện đại có thể đạt trên 300 triệu đồng mỗi tháng, tùy quy mô và loại sản phẩm; thu nhập của người thợ tại các lò này khoảng 15-25 triệu đồng mỗi tháng. Những con số này cho thấy nghề gốm vẫn có khả năng tạo sinh kế, dù hiệu quả giữa các cơ sở phụ thuộc vào quy mô và thị trường.
Du lịch có thể tạo thêm nguồn thu từ hoạt động trải nghiệm, giới thiệu sản phẩm và kết nối với các tuyến tham quan văn hóa của Hà Nội. Tuy nhiên, nghệ nhân cần được trả công xứng đáng khi hướng dẫn khách; sản phẩm phải được giới thiệu đúng nguồn gốc, giá trị; không gian sản xuất và sinh hoạt của người dân cần được tôn trọng.
Để phát triển bền vững, chính quyền địa phương, nhà nghiên cứu, nghệ nhân, cơ sở sản xuất và doanh nghiệp du lịch cần phối hợp bảo vệ di sản, hỗ trợ sinh kế và xây dựng nội dung giới thiệu dựa trên tư liệu đáng tin cậy. Người dân cũng cần được tham gia và hưởng lợi từ các hoạt động phát huy giá trị làng nghề.

Người dân Kim Lan vẫn kiên trì giữ nghề truyền thống
Từ những mảnh gốm được người dân nhặt bên bờ sông đến các lò nung đang hoạt động hôm nay, Kim Lan cho thấy giá trị di sản không chỉ nằm ở những gì quá khứ để lại, mà còn ở khả năng tiếp tục hiện diện trong đời sống. Những phát hiện khảo cổ giúp làm rõ lịch sử làng nghề; còn việc tri thức ấy có được trao truyền hay không phụ thuộc vào những nghệ nhân và người thợ hôm nay.
Giữ gìn Kim Lan vì thế không chỉ là bảo tồn một nghề thủ công lâu đời, mà còn là bảo vệ không gian văn hóa ven sông Hồng, lưu giữ tư liệu về lịch sử Thăng Long và tạo sinh kế cho cộng đồng. Khi bảo tồn, sản xuất và du lịch được kết nối trên cơ sở tôn trọng lịch sử và vai trò của người dân, làng gốm cổ mới có thể tiếp tục phát huy giá trị trong đời sống đương đại của Thủ đô.