Xem thêm thông tin của Báo PNVN trên
Phụ nữ Việt Nam
MỚI NHẤT ĐỘC QUYỀN MULTIMEDIA CHUYÊN ĐỀ

Luật sư: Nên chuyển ngôn ngữ pháp lý bảo hiểm y tế thành ngôn ngữ đời sống

Đinh Thu Hiền
Luật sư: Nên chuyển ngôn ngữ pháp lý bảo hiểm y tế thành ngôn ngữ đời sống

BHXH TPHCM tuyên truyền chính sách BHYT đến người dân. Ảnh: Hồng Đào

Việc truyền tải các quy định pháp luật về bảo hiểm y tế bằng ngôn ngữ gần gũi, dễ hiểu sẽ giúp người dân nắm rõ quyền lợi, nghĩa vụ của mình. Qua đó dễ dàng tháo gỡ vướng mắc và nâng cao nhận thức, từ đó chủ động tham gia bảo hiểm y tế để bảo vệ sức khỏe bản thân và gia đình.

Phóng viên Báo Phụ nữ Việt Nam đã có cuộc trao đổi với luật sư Đào Tiến Phong, Đoàn Luật sư TPHCM, Luật sư điều hành Hãng luật Investpush Legal, các vấn đề xoay quanh việc hiểu rõ hơn về quyền và nghĩa vụ khi tham gia bảo hiểm y tế (BHYT)

PV: Thưa luật sư, người dân đi khám bệnh có sử dụng BHYT vẫn có nhiều điều cần giải đáp. Dưới góc nhìn pháp lý và truyền thông, theo ông nguyên nhân cốt lõi là do người dân chưa hiểu hết quyền lợi của mình, hay do công tác truyền thông luật chưa chạm đúng thực tế?

Luật sư Đào Tiến Phong: Theo tôi, trách nhiệm bảo đảm quyền lợi BHYT không thể chỉ đặt lên vai người tham gia bảo hiểm, mà còn thuộc về cơ quan quản lý, cơ quan bảo hiểm xã hội và các cơ sở khám chữa bệnh.

Thực tế, người dân thường không quan tâm quá nhiều đến những quy định mang tính kỹ thuật. Điều cốt lõi họ cần biết là khi đến bệnh viện, mình có được khám chữa bệnh hay không, được bảo hiểm thanh toán bao nhiêu, phải tự trả những khoản nào và nếu quyền lợi không được giải quyết đúng thì phải phản ánh với ai. Trong khi đó, công tác truyền thông pháp luật đôi khi vẫn tập trung vào việc giới thiệu những điểm mới của văn bản pháp luật hay các điểm chính của luật, thay vì giải thích những tình huống thực tế mà người dân thực sự gặp phải.

Ngoài ra, tôi nghĩ cũng cần phân biệt giữa việc cơ sở khám chữa bệnh có quy trình tiếp nhận riêng cho người bệnh BHYT và người bệnh sử dụng dịch vụ theo yêu cầu với hành vi phân biệt đối xử trái pháp luật.

Luật sư: Nên chuyển ngôn ngữ pháp lý bảo hiểm y tế thành ngôn ngữ đời sống- Ảnh 1.

Luật sư Đào Tiến Phong. Ảnh: NVCC

PV: Việc phân biệt quyền lợi giữa BHYT hộ gia đình, BHYT bắt buộc và bảo hiểm sức khỏe thương mại không phải ai cũng biết. Vậy cần giải thích bản chất "an sinh xã hội" của BHYT cho người dân hiểu qua truyền thông như thế nào?

Luật sư Đào Tiến Phong: Tôi cho rằng rất cần làm rõ được bản chất pháp lý và ý nghĩa an sinh xã hội của bảo hiểm y tế.

Theo Điều 2 Luật Bảo hiểm y tế hiện hành, BHYT là hình thức bảo hiểm bắt buộc áp dụng đối với các đối tượng theo quy định của luật, do Nhà nước tổ chức thực hiện và không vì mục đích lợi nhuận.

BHYT theo nhóm người lao động và BHYT theo hộ gia đình không phải 2 sản phẩm bảo hiểm có bản chất khác nhau. Đây là những nhóm tham gia trong cùng một hệ thống BHYT, nhưng khác nhau về đối tượng, mức đóng và trách nhiệm đóng.

Trong khi đó, bảo hiểm sức khỏe thương mại được hình thành trên cơ sở hợp đồng bảo hiểm, với phạm vi bảo hiểm, mức phí, quyền lợi và các trường hợp loại trừ theo thỏa thuận, phù hợp với pháp luật về kinh doanh bảo hiểm.

Điều cần truyền thông rõ hơn là BHYT không vận hành đơn thuần theo nguyên tắc người nào đóng nhiều thì được hưởng nhiều, mà còn dựa trên cơ chế chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia. Người khỏe mạnh cùng đóng góp để hỗ trợ chi phí điều trị cho người không may mắc bệnh.

Tôi nghĩ nếu chỉ tuyên truyền BHYT như một khoản tiền phải đóng hằng năm, người dân rất dễ so sánh thiệt hơn, chẳng hạn như năm nay không đi khám thì coi như mất tiền. Nhưng nếu truyền tải được rằng BHYT là cơ chế cộng đồng cùng chia sẻ rủi ro, đồng thời giúp người dân giảm gánh nặng tài chính khi mắc bệnh, thì cách nhìn nhận sẽ khác. BHYT không chỉ bảo vệ một người khi họ bị bệnh, mà còn góp phần bảo vệ sự ổn định tài chính của cả gia đình trước những rủi ro sức khỏe không thể dự đoán.

PV: Hiện tại, công tác truyền thông Luật BHYT có cần thay đổi bằng các hình thức mới, để tiếp cận được nhiều đối tượng hơn, trong đó có cả người lao động tự do hoặc người trẻ sử dụng mạng xã hội hay không? Ý kiến của luật sư thế nào?

Luật sư Đào Tiến Phong: Tôi không cho rằng những hình thức truyền thông truyền thống đã lỗi thời hoàn toàn. Vấn đề nằm ở chỗ chúng ta có đang sử dụng đúng phương thức để tiếp cận đúng nhóm đối tượng hay không.

Ví dụ như đối với nhóm người cao tuổi hoặc người dân ở những địa bàn có điều kiện tiếp cận công nghệ hạn chế, việc tuyên truyền trực tiếp vẫn rất cần thiết. Nhưng đối với người lao động trẻ, lao động tự do hoặc những người thường xuyên sử dụng điện thoại thông minh, việc chỉ đăng tải văn bản trên website hay phát tờ rơi rõ ràng là không hiệu quả. Theo tôi, cần chuyển từ cách truyền thông mà cơ quan quản lý muốn nói sang cách truyền thông mà người dân muốn nghe.

Chẳng hạn, thay vì đăng một bài viết dài về những điểm mới của Luật BHYT, có thể xây dựng một video ngắn trên Reels của Facebook hay Tiktok giải thích.

Tất nhiên, truyền thông trên mạng xã hội cũng không nên chạy theo lượt xem mà đơn giản hóa quá mức nội dung pháp luật. Một thông tin pháp luật được nhiều người xem chưa chắc đã là truyền thông hiệu quả. Điều quan trọng hơn là người xem có hiểu đúng và biết áp dụng khi cần hay không.

Luật sư: Nên chuyển ngôn ngữ pháp lý bảo hiểm y tế thành ngôn ngữ đời sống- Ảnh 2.

Các nhân viên y tế sẽ hỗ trợ, tư vấn trực tiếp cho người dân khi tới khám chữa bệnh theo diện BHYT. Ảnh: Đình Hưng

PV: Làm thế nào để đơn giản hóa các điều luật BHYT vốn rất khô khan, nhiều thuật ngữ chuyên môn (như "tuyến đại lý", "cùng chi trả", "thông tuyến"...) thành những nội dung ngắn gọn, dễ hiểu để một người dân bình thường đọc là hiểu ngay quyền lợi của mình?

Luật sư Đào Tiến Phong: Trước hết tôi cho rằng đơn giản hóa pháp luật không có nghĩa là lược bỏ những điều kiện quan trọng của quy định, mà là chuyển ngôn ngữ pháp lý thành ngôn ngữ đời sống. Chẳng hạn, thay vì chỉ giải thích thuật ngữ "cùng chi trả", có thể nói đơn giản rằng trong một số trường hợp, quỹ BHYT thanh toán một phần chi phí thuộc phạm vi được hưởng, phần còn lại người bệnh phải tự thanh toán.

Hay đối với khái niệm thường được gọi là "thông tuyến", có thể giải thích cụ thể người bệnh được khám chữa bệnh tại cơ sở nào, trong trường hợp nào và mức thanh toán ra sao, thay vì khiến họ hiểu nhầm rằng cứ có thẻ BHYT thì đến bất kỳ bệnh viện nào cũng được thanh toán toàn bộ viện phí.

Đặc biệt, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế số 51/2024/QH15, có hiệu lực từ ngày 1/7/2025, đã sửa đổi nhiều quy định về đăng ký khám chữa bệnh ban đầu, chuyển người bệnh giữa các cơ sở và mức hưởng BHYT. Vì vậy, những tài liệu truyền thông mới phải phản ánh đúng cơ chế phân cấp chuyên môn kỹ thuật, thay vì tiếp tục sử dụng máy móc cách giải thích theo tuyến cũ.

Ví dụ với trường hợp cấp cứu, cần giải thích rằng theo khoản 5 Điều 22 Luật BHYT đã được sửa đổi, người tham gia BHYT được hưởng 100% mức hưởng của mình khi khám chữa bệnh tại bất kỳ cơ sở khám chữa bệnh nào trong trường hợp cấp cứu. Điều này không đồng nghĩa với việc mọi khoản chi phí đều được thanh toán 100%.

PV: Khi người dân gặp vướng mắc thực tế tại bệnh viện, công tác truyền thông cần hướng dẫn họ liên hệ với ai, bằng cách nào để được bảo vệ quyền lợi ngay lập tức?

Luật sư Đào Tiến Phong: Câu hỏi này rất thực tế, theo tôi, đây là một trong những nội dung quan trọng nhất nhưng cũng dễ bị bỏ sót trong truyền thông pháp luật về BHYT. Chúng ta thường tuyên truyền người dân có những quyền lợi gì, nhưng lại chưa hướng dẫn đầy đủ cách xử lý khi quyền lợi đó không được bảo đảm.

Điều 36 Luật BHYT quy định người tham gia BHYT có quyền yêu cầu cơ quan bảo hiểm xã hội, cơ sở khám chữa bệnh BHYT và cơ quan liên quan giải thích, cung cấp thông tin về chế độ BHYT; đồng thời có quyền khiếu nại, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về BHYT. Từ quy định này, theo tôi, cần thiết lập một quy trình hướng dẫn thật đơn giản. Khi phát sinh vướng mắc, người bệnh nên được hướng dẫn liên hệ trước tiên với bộ phận tiếp đón BHYT, bộ phận công tác xã hội hoặc bộ phận tiếp nhận phản ánh của bệnh viện để yêu cầu giải thích và giải quyết.

Nếu chưa được giải quyết thỏa đáng, người bệnh có thể phản ánh đến cơ quan BHXH có thẩm quyền hoặc cơ quan quản lý y tế, tùy theo tính chất vụ việc. Đồng thời, người bệnh nên lưu giữ những tài liệu cần thiết như giấy hẹn, phiếu chỉ định, hóa đơn, chứng từ thanh toán và nội dung phản ánh để có cơ sở bảo vệ quyền lợi của mình.

Tôi cũng đề xuất các bệnh viện nên công khai tại khu vực tiếp đón một bảng hướng dẫn ngắn gọn như tiêu lệnh chữa cháy, có mã QR, số điện thoại và đầu mối phụ trách giải quyết vướng mắc BHYT. Quan trọng hơn, cần có cơ chế phản hồi kịp thời, nhất là đối với những trường hợp đang cần điều trị. Một quyền lợi chỉ thực sự có ý nghĩa khi người dân có thể thực hiện được quyền đó, chứ không phải chỉ đọc thấy quyền ấy trong văn bản pháp luật.

PV: Theo ông làm sao để xây dựng được một chiến dịch truyền thông Luật BHYT mang tính "chủ động" – nghĩa là khiến người dân tự khắc thấy cần phải mua và tìm hiểu luật, chứ không phải đợi đến khi có bệnh mới tá hỏa đi hỏi?

Luật sư Đào Tiến Phong: Theo tôi, muốn người dân chủ động tham gia BHYT thì phải thay đổi cách tiếp cận từ tuyên truyền nghĩa vụ sang giúp người dân nhận thức được giá trị của việc phòng ngừa rủi ro. Một trong những hạn chế của truyền thông BHYT là chúng ta thường nói nhiều về mức đóng, đối tượng tham gia và chế tài, nhưng chưa làm nổi bật được ý nghĩa của BHYT đối với sự an toàn tài chính của mỗi gia đình.

Một người khỏe mạnh có thể cho rằng mình chưa cần BHYT. Nhưng rủi ro sức khỏe là điều không ai dự đoán trước được. Chỉ một đợt điều trị kéo dài hoặc một ca phẫu thuật lớn cũng có thể tạo ra gánh nặng tài chính đáng kể. Vì vậy, thay vì chỉ kêu gọi người dân tham gia BHYT, tôi cho rằng cần xây dựng những câu chuyện gần gũi, có số liệu kiểm chứng, cho thấy sự khác biệt về chi phí điều trị giữa trường hợp có BHYT và không có BHYT.

Bên cạnh đó, truyền thông cần hướng đến từng nhóm đối tượng cụ thể. Người lao động tự do cần được hướng dẫn cách tham gia và duy trì BHYT. Người lao động trong doanh nghiệp cần hiểu trách nhiệm đóng BHYT của người sử dụng lao động. Người trẻ cần hiểu rằng tham gia BHYT khi còn khỏe mạnh chính là sự chuẩn bị cho những rủi ro trong tương lai.

PV: Chúng ta có nên ứng dụng các công cụ công nghệ như Chatbot pháp lý, AI giải đáp Luật BHYT hoặc các short-video (Tiktok/Reels) vào việc phổ biến giáo dục pháp luật BHYT hay không? Luật sư có lưu ý gì về tính chính xác pháp lý khi truyền thông qua các nền tảng này?

Luật sư Đào Tiến Phong: Tôi rất ủng hộ việc ứng dụng công nghệ vào truyền thông pháp luật BHYT, đặc biệt trong bối cảnh người dân ngày càng có thói quen tìm kiếm thông tin trên các nền tảng số và gần như ai cũng có một chiếc điện thoại thông minh.

Gần đây tôi thấy các cơ quan phòng chống ma tuý đã rất xuất sắc làm các video ngắn tuyên truyền pháp luật, hiệu quả vô cùng lớn lao. Đây là mô hình tôi nghĩ cần nhân rộng.

Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý, tôi cho rằng có một số vấn đề cần đặc biệt lưu ý. Thứ nhất, tính chính xác và cập nhật của thông tin. Pháp luật BHYT có nhiều quy định liên quan đến đối tượng tham gia, phạm vi quyền lợi, mức hưởng và điều kiện áp dụng. Nếu AI sử dụng dữ liệu đã lỗi thời hoặc lập trình không tốt, giải thích thiếu điều kiện pháp lý thì có thể khiến người dân hiểu sai quyền lợi của mình vì AI có xu hướng làm thoả mãn người dùng đôi khi sai nội dung.

Thứ hai, trách nhiệm đối với nội dung. Không thể xem thông tin do AI tạo ra là đương nhiên chính xác. Những nội dung tư vấn có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người bệnh cần được kiểm tra, đối chiếu với quy định hiện hành và có cơ chế chuyển đến người có chuyên môn khi cần thiết. Mà điều này có cái khó là phải có chuyên môn, do đó AI trong lĩnh vực này cần được rà soát, thủ nghiệm thật cẩn trọng.

Thứ ba, bảo vệ dữ liệu cá nhân. Khi sử dụng chatbot để giải đáp về BHYT, người dân có thể cung cấp thông tin định danh, hồ sơ bệnh án hoặc tình trạng sức khỏe. Đây là những dữ liệu cần được bảo vệ nghiêm ngặt theo quy định pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Do đó, tôi cho rằng, AI có thể giúp pháp luật đến gần người dân nhanh hơn, nhưng tính chính xác, sự minh bạch và trách nhiệm đối với thông tin pháp luật vẫn phải do con người và các tổ chức có thẩm quyền kiểm soát, bảo đảm.

Ý kiến của bạn
Bình luận