Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi): Cần những đột phá để quyền được biết của dân thực chất hơn
GS. TS. Trần Ngọc Đường, Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn Dân chủ và Pháp luật, UBTƯ MTTQ Việt Nam; bà Nguyễn Quỳnh Liên, Ủy viên Đoàn Chủ tịch, Trưởng Ban Dân chủ, Giám sát và Phản biện xã hội, Cơ quan UBTƯ MTTQ Việt Nam chủ trì hội nghị
Sáng 30/1, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam tổ chức hội nghị phản biện xã hội đối với dự án Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi).
Chủ trì hội nghị có: GS. TS. Trần Ngọc Đường, Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn Dân chủ và Pháp luật, UBTƯ MTTQ Việt Nam; bà Nguyễn Quỳnh Liên, Ủy viên Đoàn Chủ tịch, Trưởng Ban Dân chủ, Giám sát và Phản biện xã hội, Cơ quan UBTƯ MTTQ Việt Nam. Tham dự hội nghị có các chuyên gia, nhà khoa học, cán bộ Bộ Tư pháp, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Đảng uỷ MTTQ, các đoàn thể Trung ương, UBTƯ MTTQ Việt Nam...
Thực hiện Nghị quyết số 105/2025/UBTVQH15 ngày 26/9/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Chương trình lập pháp năm 2026, quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025, trên cơ sở chính sách của Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) được Chính phủ thông qua tại Nghị quyết số 419/NQ-CP ngày 29/12/2025, Bộ Tư pháp đã xây dựng Hồ sơ dự án Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Hội nghị phản biện xã hội đối với dự án Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) được tổ chức để đánh giá tác động của chính sách trong quá trình lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh.

GS. TS. Trần Ngọc Đường, Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn Dân chủ và Pháp luật, UBTƯ MTTQ Việt Nam, phát biểu
Mở đầu phiên thảo luận, GS. TS. Trần Ngọc Đường, Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn Dân chủ và Pháp luật, UBTƯ MTTQ Việt Nam, đánh giá cao những tiến bộ của dự thảo so với Luật 2016, đặc biệt việc mở rộng phạm vi chủ thể chịu trách nhiệm cung cấp thông tin. Theo GS. TS. Trần Ngọc Đường, quyền tiếp cận thông tin là một quyền cơ bản của con người, của công dân đã được Hiến pháp bảo hộ. Tuy nhiên, GS. Trần Ngọc Đường cho rằng, luật cần thiết lập một nguyên tắc tối thượng: Mọi thông tin Nhà nước nắm giữ công dân đều có quyền tiếp cận, trừ những trường hợp đặc biệt do luật định.
Tiếp nối mạch tư duy này, PGS. TS. Đinh Dũng Sỹ, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp luật, Văn phòng Chính phủ, đã đưa ra những kiến nghị rất cụ thể về phạm vi đối tượng có nghĩa vụ cung cấp thông tin. Ông Sỹ hoan nghênh việc dự thảo đã bổ sung các đơn vị sự nghiệp công lập vào diện phải cung cấp thông tin nhưng cho rằng như vậy là chưa đủ. Theo ông Sỹ, các doanh nghiệp Nhà nước phải có trách nhiệm minh bạch hóa kết quả hoạt động và hiệu quả sử dụng vốn trước công chúng. Người dân có quyền giám sát thông qua cơ chế tiếp cận thông tin trực tiếp, thay vì chỉ dừng lại ở các báo cáo nội bộ gửi cơ quan đại diện chủ sở hữu như quy định hiện hành.
Một khía cạnh then chốt khác được các chuyên gia trao đổi là sự tương thích giữa Luật Tiếp cận thông tin và Luật Bảo vệ bí mật Nhà nước. Hiện nay, danh mục bí mật Nhà nước được quy định rất rộng và phần lớn do các cơ quan hành chính quyết định. Các đại biểu cho rằng, nếu không định nghĩa rõ ràng và thu hẹp phạm vi bí mật Nhà nước, đồng thời thiếu các chế tài đủ mạnh để xử lý việc "mật hóa" thông tin tùy tiện, thì mục tiêu của Luật Tiếp cận thông tin sẽ khó đạt được hiệu quả như mong đợi.

PGS. TS. Đinh Dũng Sỹ, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp luật, Văn phòng Chính phủ, phát biểu
Về mặt kỹ thuật lập pháp, các chuyên gia cũng chỉ ra sự bất cập trong cách tiếp cận "chọn - cho" tại Điều 17 của dự thảo. Thay vì liệt kê danh mục những thông tin phải công khai (vốn không bao giờ có thể liệt kê hết), các nhà khoa học đề nghị chuyển sang cơ chế "chọn - bỏ". Nghĩa là, luật chỉ cần quy định những gì thuộc bí mật không được công khai, còn lại tất cả thông tin khác mặc nhiên là thông tin công dân được quyền tiếp cận. Cách tiếp cận này không chỉ giúp luật bao quát được sự phát triển không ngừng của các loại hình thông tin trong tương lai mà còn khẳng định tư duy phục vụ của bộ máy Nhà nước.
Một trong những vấn đề cốt lõi được nhấn mạnh chính là tính thực thi về quyền của công dân. Theo TS. Nguyễn Văn Pha, nguyên Phó Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, dự thảo dù đã nêu rõ quyền được cung cấp thông tin nhưng không phải người dân nào cũng am hiểu pháp luật, do đó cần bổ sung cụ thể quyền được hướng dẫn, hỗ trợ và quyền được thông báo về tiến độ xử lý yêu cầu. Đặc biệt, trách nhiệm của cơ quan Nhà nước phải được luật hóa rõ ràng hơn đối với các đối tượng yếu thế như người khuyết tật, người ở vùng sâu vùng xa. Nếu không có sự chủ động hỗ trợ, quyền tiếp cận thông tin sẽ trở nên xa xỉ đối với những người thực sự cần nó để bảo vệ quyền lợi sát sườn.
Bên cạnh đó, các đại biểu khác cũng đóng góp ý kiến về một số khía cạnh như: đề nghị bổ sung bắt buộc công khai kết quả xử phạt vi phạm hành chính trong y tế, an toàn thực phẩm để người dân lựa chọn dịch vụ an toàn hay cảnh báo về việc công khai chi tiết lịch trình làm việc trong một số trường hợp sẽ làm ảnh hưởng đến quyền riêng tư cá nhân.... Theo GS. TS Trần Ngọc Đường, các ý kiến góp ý tại hội nghị phản biện sẽ được tổng hợp để gửi Ban soạn thảo chỉnh sửa, bổ sung cho phù hợp.

TS. Hoàng Thị Ngân, nguyên Vụ trưởng Vụ Tổ chức hành chính nhà nước và Công vụ, Văn phòng Chính phủ, phát biểu
Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) gồm 4 chương, 31 điều, giảm 1 chương, 6 điều so với Luật Tiếp cận thông tin năm 2016.
Chương I gồm những quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 6) quy định về phạm vi điều chỉnh, giải thích từ ngữ, nguyên tắc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, áp dụng pháp luật về tiếp cận thông tin, các hành vi bị nghiêm cấm và xử lý vi phạm.
Chương II gồm: quyền, nghĩa vụ của công dân, trách nhiệm của cơ quan, đơn vị trong việc bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin (từ Điều 7 đến Điều 13) quy định về người thực hiện quyền tiếp cận thông tin, quyền và nghĩa vụ của công dân trong việc tiếp cận thông tin, phương thức tiếp cận thông tin, phạm vi và trách nhiệm cung cấp thông tin, trách nhiệm của cơ quan, đơn vị trong việc bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin, giám sát việc bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin, khiếu nại, khởi kiện, tố cáo.
Chương III gồm: Công khai thông tin, cung cấp thông tin theo yêu cầu (từ Điều 14 đến Điều 28) quy định về thông tin công dân được tiếp cận, thông tin công dân không được tiếp cận, thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện; công khai thông tin; cung cấp thông tin theo yêu cầu.
Chương IV gồm: Điều khoản thi hành (từ Điều 29 đến Điều 31) quy định về điều khoản áp dụng, điều khoản chuyển tiếp và hiệu lực thi hành của Luật. Dự thảo Luật quy định Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/9/2026.