Xem thêm thông tin của Báo PNVN trên
Phụ nữ Việt Nam
MỚI NHẤT ĐỘC QUYỀN MULTIMEDIA CHUYÊN ĐỀ
30/06/2026 - 10:34 (GMT+7)

Phát huy hiệu quả nguồn lực đầu tư nước ngoài cùng nội lực đất nước

Diệp Trương
Phát huy hiệu quả nguồn lực đầu tư nước ngoài cùng nội lực đất nước

Đồng chí Phạm Gia Túc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ, Quán triệt Nghị quyết số 10-NQ/TW. (Ảnh: Phương Hoa/TTXVN)

Nghị quyết 10-NQ/TW hướng tới nâng cao chất lượng và hiệu quả phát triển kinh tế, phát huy tối đa nguồn lực nội và ngoại để bền vững đất nước.

Tiếp tục Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, sáng 30/6, tại Hà Nội, các đại biểu xem phim "40 năm thu hút đầu tư nước ngoài" và nghe đồng chí Phạm Gia Túc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ truyền đạt Nghị quyết số 10-NQ/TW.

Kiến tạo năng lực phát triển mới

Báo cáo 4 nội dung trọng tâm của Nghị quyết số 10-NQ/TW, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc khái quát bối cảnh và sự cần thiết ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW; khẳng định nếu gần bốn mươi năm qua, nhiệm vụ trọng tâm là mở cửa để thu hút các nguồn lực quốc tế, thì trong giai đoạn mới, nhiệm vụ trọng tâm là phát huy hiệu quả các nguồn lực đó để cùng với nội lực của đất nước kiến tạo những năng lực phát triển mới của quốc gia.

Nghị quyết số 10-NQ/TW đã xác định 6 quan điểm chỉ đạo trong phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Từ 6 quan điểm chỉ đạo, có 6 chuyển đổi lớn về tư duy phát triển, đó là chuyển từ tư duy thu hút đầu tư nước ngoài sang phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

Nghị quyết tiếp cận toàn diện hơn, bao quát cả đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, thị trường vốn và các thiết chế tài chính quốc tế; coi kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận hữu cơ của nền kinh tế, phát triển hài hòa với khu vực kinh tế trong nước để phục vụ mục tiêu phát triển quốc gia.

Bên cạnh đó, chuyển từ coi trọng quy mô vốn sang coi trọng chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng. Trọng tâm không còn là thu hút nhiều dự án hơn, mà là lựa chọn các dự án có công nghệ tiên tiến, đổi mới sáng tạo, quản trị hiện đại, có khả năng lan tỏa và đóng góp thiết thực vào nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Chuyển từ ưu đãi theo đầu vào sang ưu đãi theo kết quả, các chính sách ưu đãi được đổi mới theo hướng gắn với việc thực hiện các cam kết về chuyển giao công nghệ, nghiên cứu và phát triển, đào tạo nhân lực, liên kết với doanh nghiệp trong nước, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững.

Phát huy hiệu quả nguồn lực đầu tư nước ngoài cùng nội lực đất nước- Ảnh 1.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và các đại biểu tham dự. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)

Về việc chuyển từ phát triển FDI đơn lẻ sang phát triển đồng bộ hệ sinh thái các dòng vốn quốc tế, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ nêu rõ đây là điểm mới nổi bật của Nghị quyết khi đặt đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, thị trường vốn, trung tâm tài chính quốc tế và các không gian phát triển mới như khu thương mại tự do, các đặc khu kinh tế... trong một chỉnh thể thống nhất nhằm nâng cao hiệu quả huy động và phân bổ nguồn lực.

Cùng với đó là chuyển từ quản lý đầu tư sang kiến tạo môi trường đầu tư và phát triển. Nhà nước tập trung hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng quản trị quốc gia, phát triển hạ tầng, nguồn nhân lực và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo để tạo môi trường thuận lợi cho các nguồn lực trong nước và quốc tế cùng phát triển.

Chuyển từ cạnh tranh thu hút đầu tư giữa các địa phương sang điều phối phát triển ở tầm quốc gia, Nghị quyết yêu cầu tăng cường liên kết vùng, liên kết giữa khu vực đầu tư nước ngoài với khu vực kinh tế trong nước, phát huy vai trò của các cực tăng trưởng, đổi mới sáng tạo để nâng cao hiệu quả phát triển chung của nền kinh tế.

Sáu quan điểm chỉ đạo với các điểm đổi mới trên cho thấy nếu trước đây trọng tâm là thu hút các nguồn vốn quốc tế, trong giai đoạn mới, mục tiêu cao hơn là phát huy hiệu quả các nguồn lực đó để cùng với nội lực của đất nước kiến tạo những năng lực phát triển mới, nâng cao năng lực tự chủ, năng lực cạnh tranh và sức chống chịu của nền kinh tế, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc nhấn mạnh.

7 nhóm đột phá

Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt mục tiêu tổng quát là đưa Việt Nam trở thành điểm đến có sức cạnh tranh thu hút nguồn vốn nước ngoài trung và dài hạn chất lượng cao cho đầu tư phát triển.

Quản lý và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài nhằm nâng cao năng lực sản xuất, tạo sự liên kết, lan tỏa với các khu vực kinh tế trong nước, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và tham gia sâu các chuỗi cung ứng toàn cầu; góp phần xác lập mô hình tăng trưởng mới trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tăng cường năng lực cạnh tranh và khả năng tự chủ chiến lược, nâng cao vị thế và uy tín quốc gia.

Đến năm 2030, Nghị quyết đặt mục tiêu tạo chuyển biến căn bản về chất lượng và hiệu quả phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó có 4 định hướng lớn: Thu hút 200-300 tỷ USD vốn FDI đăng ký, trong đó vốn thực hiện đạt 150-200 tỷ USD; nâng cao chất lượng dòng vốn với 75% vốn đăng ký mới đến từ các nền kinh tế phát triển, có tiềm năng về công nghệ, vốn và quản trị hiện đại; tỷ lệ nội địa hóa trung bình trong các ngành công nghiệp chủ lực đạt 45-50%, có khoảng 10.000 doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; nâng hạng thị trường chứng khoán lên thị trường mới nổi trước năm 2030, tạo nền tảng thu hút mạnh mẽ hơn các dòng vốn đầu tư gián tiếp quốc tế.

Mục tiêu đến năm 2045, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển hiệu quả, bền vững, gắn kết chặt chẽ với kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân; Việt Nam trở thành trung tâm sản xuất, dịch vụ, đổi mới sáng tạo và điều hành khu vực của nhiều tập đoàn đa quốc gia, qua đó nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và đóng góp khoảng 30% GDP.

Có thể khái quát mục tiêu của Nghị quyết bằng một thông điệp: "Thành công trong giai đoạn mới không được đo chủ yếu bằng số lượng dự án hay quy mô vốn thu hút, mà bằng chất lượng các dòng vốn, năng lực công nghệ, mức độ đổi mới sáng tạo, liên kết với doanh nghiệp trong nước và những đóng góp thực chất đối với sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước."

Để hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, Nghị quyết số 10-NQ/TW xác định hệ thống nhiệm vụ, giải pháp toàn diện, có thể khái quát thành 7 nhóm đột phá.

Đó là, đổi mới tư duy, thống nhất nhận thức về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển, coi kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận hữu cơ của nền kinh tế và là động lực quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Khắc phục tình trạng các địa phương cạnh tranh thu hút đầu tư chạy theo số lượng; kiên quyết không đánh đổi môi trường, tài nguyên, an sinh xã hội và an ninh kinh tế để đổi lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần.

Bên cạnh đó, đột phá về thể chế, tiếp tục hoàn thiện môi trường đầu tư minh bạch, ổn định và có sức cạnh tranh quốc tế; đổi mới chính sách ưu đãi theo hướng gắn với hiệu quả hoạt động và các kết quả thực hiện các cam kết của dự án.

Hình thành cơ chế lựa chọn, hỗ trợ, quản lý nhà đầu tư chiến lược. Áp dụng quy trình thủ tục đầu tư đặc biệt và cơ chế ưu đãi cho các dự án công nghệ chiến lược có quy mô lớn, tác động liên vùng, có tiềm năng dẫn dắt chuỗi cung ứng; dự án công nghệ cao có cam kết chuyển giao công nghệ.

Thí điểm mô hình thể chế vượt trội tại một số khu vực; thực hiện quản trị đầu tư trên nền tảng số, dữ liệu số và trí tuệ nhân tạo...

Phát huy hiệu quả nguồn lực đầu tư nước ngoài cùng nội lực đất nước- Ảnh 2.

Đại biểu tham dự hội nghị. (Ảnh: Phương Hoa/TTXVN)

Ngay tại Phiên họp Chính phủ về xây dựng pháp luật tháng 6 vừa qua, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc cho biết Chính phủ đã giao Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan nghiên cứu, đề xuất trình Chính phủ báo cáo Quốc hội về việc ban hành Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài theo trình tự, thủ tục rút gọn nhằm thể chế hóa kịp thời các giải pháp chính sách tại Nghị quyết số 10-NQ/TW.

Phó Thủ tướng Thường trực nhấn mạnh việc phát triển đồng bộ nguồn nhân lực và kết cấu hạ tầng, nhất là: Xây dựng chương trình phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với nhu cầu của các ngành, lĩnh vực ưu tiên; có cơ chế hỗ trợ, khuyến khích việc sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cấp và từng bước giao nhiệm vụ kỹ thuật, quản lý, nghiên cứu, thiết kế, vận hành chuỗi cung ứng cho người Việt Nam. Thu hút nhân tài, trọng dụng chuyên gia, nhà khoa học, doanh nhân có trình độ cao đến làm việc tại Việt Nam...

Ngoài ra, việc định hướng thu hút đầu tư thế hệ mới, đổi mới căn bản công tác xúc tiến đầu tư theo hướng chủ động, có trọng tâm, trọng điểm; ưu tiên xúc tiến, thu hút đầu tư một số lĩnh vực cốt lõi, các dự án, nhà đầu tư có công nghệ nền tảng, dự án công nghệ cao, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, trung tâm nghiên cứu và phát triển, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và ngành có giá trị gia tăng cao...

Nâng cao hiệu quả lan tỏa của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, thúc đẩy liên kết với doanh nghiệp Việt Nam, phát triển công nghiệp hỗ trợ, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn, qua đó nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu...

Song song đó, phát triển đồng bộ đầu tư gián tiếp nước ngoài và thị trường tài chính, đẩy mạnh nâng hạng thị trường chứng khoán, phát triển thị trường vốn, trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do và các thiết chế tài chính hiện đại để nâng cao hiệu quả huy động và phân bổ nguồn lực...

Đồng thời nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các cơ quan liên quan trong phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, tăng cường điều phối ở tầm quốc gia, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương; đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý đầu tư, nâng cao năng lực dự báo, giám sát và bảo đảm môi trường đầu tư minh bạch, ổn định, an toàn...

Phó Thủ tướng Thường trực nhấn mạnh bảy nhóm nhiệm vụ trên tạo thành một chương trình hành động thống nhất, trong đó, đổi mới nhận thức là tiền đề; hoàn thiện thể chế là khâu đột phá; nhân lực và hạ tầng là nền tảng; thu hút đầu tư thế hệ mới là động lực; liên kết và đổi mới sáng tạo là mục tiêu; phát triển thị trường vốn là điều kiện huy động nguồn lực; quản trị quốc gia hiện đại là yếu tố bảo đảm cho tổ chức thực hiện thành công.

Thống nhất nhận thức, hành động và quyết tâm thực hiện

Nghị quyết số 10-NQ/TW đã xác định rõ quan điểm, mục tiêu và các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm. Tuy nhiên, thành công của Nghị quyết không chỉ phụ thuộc vào chất lượng của văn bản, mà quan trọng hơn là quyết tâm chính trị và hiệu quả tổ chức thực hiện.

Đảng ủy Quốc hội khẩn trương thể chế hóa đầy đủ các chủ trương của Bộ Chính trị; rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tăng cường giám sát việc thực hiện theo quy định.

Đảng ủy Chính phủ, các đảng ủy trực thuộc trung ương, các bộ, ngành, địa phương, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, các cơ quan liên quan, cần khẩn trương cụ thể hóa Nghị quyết thành chương trình, kế hoạch hành động với lộ trình, nhiệm vụ và trách nhiệm rõ ràng; đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát để bảo đảm Nghị quyết được triển khai đồng bộ, thống nhất và hiệu quả. Trong đó, tập trung hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, chủ động tháo gỡ các điểm nghẽn về hạ tầng, nguồn nhân lực, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo; đồng thời tăng cường điều phối ở tầm quốc gia, thí điểm một số chính sách mới và bảo đảm thống nhất trong tổ chức thực hiện.

Phát huy hiệu quả nguồn lực đầu tư nước ngoài cùng nội lực đất nước- Ảnh 3.

Đại biểu tham dự hội nghị. (Ảnh: Phương Hoa/TTXVN)

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến Nghị quyết; phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội, tạo sự thống nhất về nhận thức và đồng thuận trong toàn xã hội.

Các hiệp hội và cộng đồng doanh nghiệp, cần phát huy vai trò đồng hành cùng Nhà nước trong hoàn thiện chính sách, nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy liên kết, đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực và thực hiện đầy đủ trách nhiệm xã hội...

Có thể khẳng định Nghị quyết số 10-NQ/TW đã mở ra một giai đoạn phát triển mới đối với kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. Thành công của Nghị quyết đòi hỏi sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị với tinh thần thống nhất nhận thức, thống nhất hành động và quyết tâm thực hiện

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, với sự chỉ đạo quyết liệt của Quốc hội, Chính phủ, sự phối hợp chặt chẽ của các cấp, ngành, địa phương cùng sự đồng hành của cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư trong và ngoài nước, Nghị quyết số 10-NQ/TW sẽ nhanh chóng đi vào cuộc sống, góp phần tạo bước phát triển mới cho đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới.

Nguồn: TTXVN
Ý kiến của bạn
Bình luận
Xem thêm bình luận