Phụ nữ Tày nâng giá trị cây chè, khẳng định vị thế kinh tế
Cây chè đang trở thành nguồn sinh kế quan trọng của nhiều gia đình ở Thái Nguyên
Từ những nương chè truyền thống, phụ nữ dân tộc Tày ở Thái Nguyên đang từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất, kinh doanh. Khi được tiếp cận kỹ thuật, thị trường và cơ hội quản lý các mô hình kinh tế, họ không chỉ nâng giá trị sản phẩm mà còn chủ động hơn trong các quyết định kinh tế của gia đình.
Từ người làm chè đến người làm chủ HTX
Trong chuỗi sản xuất chè, phụ nữ thường đảm nhiệm nhiều công đoạn từ chăm sóc nương chè, thu hái, sơ chế đến chế biến. Đây là những công việc đòi hỏi sự tỉ mỉ, kinh nghiệm và nhiều thời gian lao động. Tuy nhiên, giá trị đóng góp của họ không phải lúc nào cũng được thể hiện đầy đủ trong thu nhập gia đình hay quyền tham gia các quyết định sản xuất, kinh doanh.
Một minh chứng rõ nét cho vai trò chủ động của phụ nữ là HTX Nông sản an toàn Liên Minh tại xã Liên Minh, tỉnh Thái Nguyên. HTX do chị Hoàng Thị Hải, người dân tộc Tày, làm Giám đốc, thu hút 40 hộ thành viên, chủ yếu là các hộ do phụ nữ làm chủ, với diện tích chè canh tác hơn 31 ha.
Sau hơn 5 năm hoạt động, giá trị sản phẩm của HTX tăng hơn 40%, giá chè đạt khoảng 180.000-200.000 đồng/kg, doanh thu khoảng 4 tỷ đồng mỗi năm. Đáng chú ý, quá trình phát triển của HTX có sự đồng hành của Hội LHPN xã Liên Minh thông qua các hoạt động đào tạo, tập huấn, chuyển giao khoa học - công nghệ, hỗ trợ phát triển sản xuất chè hữu cơ, an toàn.

Thành viên HTX Nông sản an toàn Liên Minh thu hái chè
Từ hỗ trợ kỹ thuật đến tổ chức sản xuất theo mô hình HTX, phụ nữ có thêm điều kiện nâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộng liên kết và tiếp cận thị trường. Quan trọng hơn, khi tham gia quản lý mô hình kinh tế, họ có cơ hội trực tiếp tính toán chi phí, doanh thu, lựa chọn phương án sản xuất và quyết định hướng kinh doanh. Đây là bước chuyển từ người trực tiếp lao động sang chủ động tổ chức, điều hành hoạt động kinh tế.
Với người trồng chè, chuyển đổi xanh không chỉ là giảm sử dụng hóa chất hay bảo vệ môi trường mà còn là thay đổi phương thức canh tác, chế biến để nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng yêu cầu thị trường. Cùng với đó, ứng dụng công nghệ số trong ghi chép sản xuất, quản lý quy trình và quảng bá sản phẩm giúp các hộ liên kết nâng cao hiệu quả sản xuất, từng bước tiếp cận phương thức kinh doanh mới.
Chuyển đổi xanh vì thế không chỉ là câu chuyện giảm sử dụng hóa chất hay bảo vệ môi trường. Với người trồng chè, đó còn là quá trình thay đổi cách làm để sản phẩm có chất lượng tốt hơn, đáp ứng yêu cầu thị trường và tạo thêm giá trị từ diện tích canh tác hiện có. Cùng với đó, ứng dụng công nghệ số trong ghi chép sản xuất, quản lý quy trình và quảng bá sản phẩm giúp các hộ liên kết từng bước tiếp cận phương thức kinh doanh mới.
Đưa nghề chè truyền thống vào chuỗi giá trị mới
Tại xã Vô Tranh, tỉnh Thái Nguyên, cây chè gắn với đời sống của nhiều gia đình qua các thế hệ. Người dân quen với nhịp chăm cây, hái búp, sao chè nhưng để nông sản truyền thống trở thành hàng hóa có giá trị cao hơn, kinh nghiệm canh tác lâu đời thôi chưa đủ. Người trồng cần thay đổi cách sản xuất, kiểm soát chất lượng và tìm được thị trường ổn định.
Sinh ra trong gia đình có truyền thống làm chè, Hoàng Văn Tuấn, người dân tộc Tày, lựa chọn trở về quê sau khi học chuyên ngành quản lý tài nguyên và môi trường. Năm 2022, anh cùng những người có chung tâm huyết thành lập HTX Trà an toàn Phú Đô tại xã Vô Tranh, tỉnh Thái Nguyên, sản xuất chè an toàn, xây dựng vùng nguyên liệu và liên kết với các hộ trồng chè tại địa phương.

Chị em tham gia thu hoạch chè
Từ một nghề vốn dựa nhiều vào kinh nghiệm hộ gia đình, sản xuất chè được tổ chức theo hướng có quy trình, tiêu chuẩn và sự liên kết. Những yêu cầu về canh tác an toàn, cải tạo đất, sử dụng phân hữu cơ, chế phẩm sinh học và hạn chế hóa chất không chỉ hướng tới chất lượng sản phẩm mà còn góp phần giảm tác động đến môi trường, bảo vệ sức khỏe người sản xuất.
Theo thông tin của HTX, đơn vị đã liên kết với 36 hộ dân, xây dựng vùng nguyên liệu khoảng 27 ha, trong đó có diện tích chè hữu cơ, chè sinh thái và chè VietGAP. Đây là bước chuyển quan trọng khi người trồng không còn đơn độc trước những yêu cầu ngày càng cao của thị trường mà có thêm sự hỗ trợ về kỹ thuật, quy trình sản xuất và đầu ra.

Đồi chè HTX Trà an toàn Phú Đô
Giám đốc HTX Trà an toàn Phú Đô Hoàng Văn Tuấn cho biết, HTX ưu tiên nâng cao chất lượng sản phẩm thông qua ứng dụng khoa học kỹ thuật và chuyển đổi số. Cùng với việc phát triển thương hiệu, đơn vị chú trọng chế biến sâu, đa dạng hóa sản phẩm từ trà và mở rộng liên kết nhằm từng bước nâng cao thu nhập cho người làm chè.
Câu chuyện ở Phú Đô cho thấy, khi nghề truyền thống được tổ chức lại theo hướng sản xuất an toàn, có liên kết và chú trọng chất lượng, người trồng chè có thêm cơ hội cải thiện giá trị nông sản. Đây cũng là điều kiện để phụ nữ tham gia sâu hơn vào các khâu có giá trị cao, thay vì chỉ đảm nhận phần lớn công việc sản xuất trực tiếp.
Nâng giá trị cây chè, tăng quyền chủ động cho phụ nữ
Một nương chè có thể tạo ra thu nhập, nhưng một chuỗi giá trị được tổ chức tốt có thể mở ra nhiều cơ hội hơn cho người trồng. Khi sản phẩm được nâng cao chất lượng, xây dựng thương hiệu và tiếp cận thị trường rộng hơn, giá trị cây chè không chỉ nằm ở sản lượng thu hoạch mà còn ở khả năng chế biến, phát triển sản phẩm và xây dựng các mối liên kết lâu dài.
Câu chuyện ở HTX Trà an toàn Phú Đô và HTX Nông sản an toàn Liên Minh cho thấy phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số không nhất thiết phải bắt đầu từ những mô hình lớn. Điểm khởi đầu có thể là cây trồng quen thuộc, nghề truyền thống và những kỹ năng được tích lũy qua nhiều thế hệ.
Điều quan trọng là tạo được điều kiện để người dân thay đổi phương thức sản xuất, tiếp cận nguồn lực và tham gia sâu hơn vào thị trường. Trong quá trình ấy, phụ nữ cần có cơ hội không chỉ tạo ra sản phẩm mà còn tham gia quản lý, đưa ra quyết định và hưởng thành quả tương xứng với đóng góp của mình.

Cây chè không chỉ nuôi sống nhiều gia đình mà còn trở thành "điểm tựa" để phụ nữ khẳng định năng lực và chủ động hơn với tương lai kinh tế của mình
Trong năm 2026, Hội LHPN tỉnh Thái Nguyên tiếp tục chú trọng nâng cao năng lực kinh tế cho phụ nữ, gắn hoạt động hỗ trợ với nhu cầu thực tế tại cơ sở. Từ đầu năm đến tháng 5/2026, gần 1.200 cán bộ, hội viên đã tham gia các lớp tập huấn về quản lý vốn, tài chính vi mô, ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số.
Đến tháng 8/2026, Hội tiếp tục triển khai các hoạt động hỗ trợ HTX, tổ hợp tác và mô hình liên kết sản xuất, tập trung vào năng lực quản trị, xây dựng thương hiệu, truy xuất nguồn gốc và kết nối tiêu thụ sản phẩm.
Cách làm này cho thấy yêu cầu hỗ trợ phụ nữ đang được mở rộng từ kỹ thuật sản xuất sang quản trị và phát triển thị trường. Bởi một sản phẩm có chất lượng tốt chưa đủ để bảo đảm sinh kế bền vững nếu người sản xuất thiếu kỹ năng tính toán chi phí, tổ chức kinh doanh và tìm kiếm đầu ra.
Ngày 26/8/2026, Hội LHPN tỉnh Thái Nguyên triển khai Đề án "Hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp" giai đoạn 2026–2035. Nhìn lại giai đoạn 2017–2025, các cấp Hội đã hỗ trợ hơn 800 phụ nữ khởi sự kinh doanh, thành lập 45 HTX và hơn 200 tổ hợp tác do phụ nữ quản lý, điều hành; huy động hơn 4.600 tỷ đồng từ các nguồn vốn tín dụng, hỗ trợ hơn 58.600 lượt hội viên vay vốn phát triển sản xuất, kinh doanh.
Bước sang giai đoạn mới, yêu cầu đặt ra không chỉ là tăng số lượng phụ nữ được tập huấn hay tiếp cận vốn mà còn phải giúp các mô hình kinh tế nâng cao năng lực quản trị, chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh. Đây cũng là điều kiện để phụ nữ, nhất là phụ nữ dân tộc thiểu số, có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và từng bước làm chủ hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Với phụ nữ dân tộc thiểu số, cơ hội ấy có ý nghĩa đặc biệt. Khi được tiếp cận kiến thức, kỹ thuật, vốn và thị trường, họ có thể chuyển từ vị trí chủ yếu làm công việc sản xuất sang chủ động hơn trong tổ chức sinh kế, tính toán hiệu quả và lựa chọn hướng phát triển cho gia đình. Thu nhập ổn định hơn cũng góp phần giảm áp lực kinh tế, tăng khả năng chăm lo cho con cái và cải thiện đời sống.
Từ những nương chè truyền thống, phụ nữ dân tộc Tày đang có thêm cơ hội tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất, kinh doanh. Khi được tiếp cận kiến thức, kỹ thuật, vốn và thị trường, họ không chỉ nâng cao giá trị sản phẩm mà còn có điều kiện tham gia quản lý, quyết định hướng phát triển kinh tế của gia đình. Đó cũng là cách để giá trị cây chè được nâng lên cùng với vị thế và sự chủ động của người phụ nữ.