Tạo sinh kế, mở lối thoát nghèo cho phụ nữ vùng cao
Tạo sinh kế, mở lối thoát nghèo cho phụ nữ vùng cao. Ảnh minh họa
Từ một khoản vay phát triển chăn nuôi, mô hình du lịch cộng đồng đến quán cà phê nhỏ mở sau khóa học nghề, nhiều phụ nữ ở vùng khó đang tìm thấy hướng đi mới để cải thiện cuộc sống. Những mô hình này không chỉ giúp tăng thu nhập cho gia đình mà còn tạo thêm việc làm tại địa phương, giúp phụ nữ tự tin và từng bước làm chủ sinh kế.
Những lựa chọn sinh kế trên quê hương
Từng là hộ nghèo nhiều năm, cuộc sống gia đình chị Mùa Thị Hoàn ở xã Mường Nhé, tỉnh Điện Biên chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp. Thu nhập không ổn định khiến việc chăm lo cuộc sống và nuôi dạy các con gặp nhiều khó khăn. Muốn thay đổi hoàn cảnh, chị nghĩ đến việc phát triển chăn nuôi nhưng lại thiếu vốn và kinh nghiệm.
Thông qua sự hướng dẫn của cấp ủy, chính quyền địa phương và Hội LHPN xã, chị Hoàn được hỗ trợ tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính sách. Với khoản vay 80 triệu đồng từ Ngân hàng Chính sách xã hội, chị quyết định đầu tư một cặp trâu sinh sản.
Nhớ lại thời điểm đó, chị Hoàn cho biết: "Lúc đầu tôi cũng lo lắm. Nhưng được các chị trong Hội đến động viên, cán bộ xã hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi, tôi mới dám vay 80 triệu đồng từ Ngân hàng Chính sách xã hội để mua một cặp trâu giống".

Chị Mùa Thị Hoàn ở xã Mường Nhé, tỉnh Điện Biên chăm sóc đàn trâu gia đình
Từ cặp trâu ban đầu, gia đình chị mở rộng chăn nuôi thêm lợn, dê, đầu tư chuồng trại phù hợp và tận dụng nguồn thức ăn sẵn có để giảm chi phí. Đến nay, sau khi trừ khoản chi cho chăn nuôi, mỗi năm gia đình có thu nhập trên 100 triệu đồng. Cuộc sống ổn định hơn cũng giúp chị có điều kiện chăm lo việc học của các con.
Nếu câu chuyện của chị Hoàn bắt đầu từ một khoản vốn để phát triển kinh tế hộ, thì chị Lù Thị Toản, Chi hội trưởng Chi hội Phụ nữ bản Quan Chiêng, đồng thời là Ủy viên Ủy ban MTTQ Việt Nam phường Mường Lay (Điện Biên), lại lựa chọn hướng đi khác: Khai thác lợi thế văn hóa và cảnh quan quê hương để phát triển du lịch cộng đồng.
Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Mường Lay, chị Toản hiểu rõ giá trị của cảnh quan lòng hồ sông Đà, những ngôi nhà sàn mái đá đen và nét văn hóa đặc sắc của đồng bào Thái trắng. Tuy nhiên, dù quê hương có nhiều tiềm năng, đời sống người dân vẫn còn khó khăn, nhiều thanh niên phải đi xa làm ăn, phụ nữ chủ yếu quanh quẩn với ruộng vườn.
Từ trăn trở đó, chị nghĩ đến việc phát triển du lịch cộng đồng, vừa khai thác lợi thế địa phương, vừa tạo thêm sinh kế cho người dân. Năm 2021, sau khi tham gia lớp tập huấn về du lịch cộng đồng và đi thực tế tại một số tỉnh, chị mạnh dạn cải tạo nhà sàn của gia đình thành homestay.
Bước ngoặt đến vào năm 2022, khi Mường Lay tổ chức Giải dù lượn quốc gia kết hợp Lễ hội đua thuyền. Chị Toản vận động các hộ dân chỉnh trang nhà cửa, chuẩn bị dịch vụ ăn uống, lưu trú để đón khách. Hơn 1.000 lượt khách đến bản Quan Chiêng và sử dụng dịch vụ đã giúp chị thêm tin tưởng vào hướng đi này.
Nhớ lại những ngày đầu, chị Toản kể: "Năm đấy bà con mình vui lắm, khách đến ăn cơm, nghe hát, nghỉ nhà sàn. Lúc tiễn khách đi, ai cũng lưu luyến. Tôi hiểu rằng mình đã tìm được con đường phát triển kinh tế đúng đắn".

Lù Thị Toản khai thác lợi thế văn hóa và cảnh quan quê hương để phát triển du lịch cộng đồng
Từ cơ sở lưu trú của gia đình, chị tiếp tục vận động các hộ dân cùng tham gia, chia sẻ kinh nghiệm và kết nối dịch vụ. Năm 2023, Tổ phụ nữ tham gia phát triển du lịch cộng đồng do chị làm tổ trưởng được thành lập. Đến tháng 3/2026, mô hình phát triển thành Hợp tác xã Du lịch cộng đồng Quan Chiêng, liên kết hơn 10 cơ sở lưu trú.
Chị Toản muốn người dân coi đây là mô hình chung của cộng đồng, không phải hoạt động kinh doanh của riêng một cá nhân. Vì vậy, các hộ được kết nối vào những công việc phù hợp như lưu trú, nấu ăn, phục vụ, biểu diễn văn nghệ và giới thiệu văn hóa địa phương.
Theo thống kê tại địa phương, các mô hình homestay ở Mường Lay mỗi năm đón hơn 2.500 lượt khách, doanh thu ước đạt 1,8 tỷ đồng, tạo việc làm ổn định cho gần 50 lao động, trong đó phụ nữ và thanh niên chiếm 60%. Từ một ý tưởng kinh doanh của cá nhân, du lịch cộng đồng đã mở thêm cơ hội để nhiều hộ dân tham gia cung cấp dịch vụ, có thêm thu nhập và nâng cao kỹ năng làm kinh tế.
Để mỗi phụ nữ có thể tự chủ về kinh tế
Những câu chuyện về chị Hoàn, chị Toản cho thấy cơ hội phát triển kinh tế của phụ nữ có thể bắt đầu từ những nguồn lực rất khác nhau. Tuy nhiên, để các mô hình không chỉ dừng lại ở những trường hợp riêng lẻ, việc hỗ trợ cần xuất phát từ nhu cầu và điều kiện thực tế của từng nhóm phụ nữ.
Tại Điện Biên, dù nhận thức, nếp nghĩ và cách làm của phụ nữ vùng sâu, vùng xa đã có nhiều chuyển biến, những rào cản về vốn, kiến thức sản xuất và kỹ năng quản lý vẫn chưa dễ khắc phục. Trước thực tế đó, các cấp Hội Phụ nữ trong tỉnh triển khai nhiều hoạt động hỗ trợ, từ tín dụng, đào tạo nghề, chuyển giao khoa học kỹ thuật đến xây dựng mô hình sinh kế và phát triển kinh tế tập thể.
Một hướng được chú trọng là giúp phụ nữ tiếp cận các phương thức kinh doanh mới. Trong 9 tháng đầu năm 2026, các cấp Hội đã hỗ trợ trên 100 lượt phụ nữ làm quen với gian hàng trực tuyến, livestream bán hàng và các nền tảng thương mại điện tử; hướng dẫn kỹ năng chụp ảnh, quảng bá sản phẩm, chốt đơn và chăm sóc khách hàng. Hội cũng phối hợp với doanh nghiệp tổ chức các lớp đào tạo nghề trang điểm cơ bản và kỹ năng livestream bán hàng cho hàng trăm học viên có hoàn cảnh khó khăn.
Việc đưa kỹ năng số vào hoạt động hỗ trợ sinh kế giúp phụ nữ quảng bá, tiêu thụ sản phẩm và tiếp cận khách hàng ở phạm vi rộng hơn, giảm bớt hạn chế do khoảng cách địa lý.

Cán bộ Hội LHPN xã Búng Lao thăm mô hình kinh tế của hội viên
Cùng với đào tạo nghề, hoạt động ủy thác với Ngân hàng Chính sách xã hội tiếp tục là kênh quan trọng giúp phụ nữ có vốn đầu tư phát triển kinh tế. Đến nay, tổng dư nợ do các cấp Hội Phụ nữ Điện Biên quản lý gần 1.500 tỷ đồng, với trên 17.900 thành viên tham gia. Nguồn vốn cùng các nhóm tiết kiệm tại cộng đồng tạo điều kiện để hội viên đầu tư phát triển kinh tế hộ gia đình, từng bước cải thiện thu nhập.
Bà Pờ Diệu Ninh, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Điện Biên, Chủ tịch Hội LHPN tỉnh cho biết, mỗi phụ nữ có hoàn cảnh và điều kiện khác nhau nên cách hỗ trợ cũng cần phù hợp. Người cần vốn được giúp tiếp cận nguồn vay, người muốn học nghề được kết nối đào tạo, hướng dẫn kỹ thuật; những người có sản phẩm được hỗ trợ quảng bá, bán hàng trên mạng.
Theo bà Ninh, điều Hội hướng tới không chỉ là giúp chị em nhận được sự hỗ trợ trước mắt mà quan trọng hơn là có thêm kiến thức, mạnh dạn làm ăn, tự tạo thu nhập và từng bước vươn lên bằng chính sức mình.
Bên cạnh hỗ trợ kinh tế, các cấp Hội còn chú trọng thay đổi nhận thức, định kiến về giới, tạo điều kiện để phụ nữ tham gia nhiều hơn vào các hoạt động xã hội. Trong 9 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh tổ chức gần 400 buổi tập huấn, truyền thông với hơn 26.000 lượt người tham gia; 38 hội nghị đối thoại chính sách với 2.888 người dự. Nội dung tập trung vào việc làm cho phụ nữ, phòng, chống tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống, chăm sóc sức khỏe và bảo vệ phụ nữ, trẻ em.
Việc nâng cao nhận thức về bình đẳng giới có ý nghĩa thiết thực đối với khả năng tự chủ kinh tế. Nếu phụ nữ vẫn phải đảm nhận phần lớn công việc chăm sóc gia đình, bị hạn chế quyền quyết định về tài chính hoặc không được khuyến khích tham gia hoạt động kinh tế, cơ hội phát triển sinh kế sẽ khó được phát huy đầy đủ.
Vai trò của phụ nữ trong đời sống chính trị, xã hội tại Điện Biên cũng có những chuyển biến đáng chú ý. Trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, toàn tỉnh có 622 nữ ứng cử viên, chiếm 37,72% tổng số người ứng cử. Kết quả, 334 phụ nữ trúng cử, gồm 3 đại biểu Quốc hội, 18 đại biểu HĐND tỉnh và 313 đại biểu HĐND cấp xã. Tỷ lệ nữ đại biểu HĐND cấp xã đạt 33,87%, tăng 3,03 điểm phần trăm so với nhiệm kỳ trước.
Theo bà Pờ Diệu Ninh, muốn thu hẹp khoảng cách giới, trước hết phải giúp phụ nữ có điều kiện vươn lên, có thu nhập, có tiếng nói và được tham gia quyết định những việc liên quan đến bản thân, gia đình, cộng đồng. Thời gian tới, các cấp Hội sẽ tiếp tục hỗ trợ phụ nữ học nghề, phát triển kinh tế, tiếp cận khoa học kỹ thuật, đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền để thay đổi những quan niệm còn định kiến về giới.
Thực tế thị trường lao động cũng cho thấy khoảng cách thu nhập giữa lao động nam và nữ vẫn còn đáng chú ý. Theo Cục Thống kê, trong 9 tháng năm 2026, thu nhập bình quân tháng của người lao động đạt 9,1 triệu đồng. Trong đó, lao động nam đạt 10,2 triệu đồng, còn lao động nữ đạt 7,8 triệu đồng.

Phụ nữ dân tộc thiểu số phát huy giá trị văn hóa truyền thống, góp phần phát triển sinh kế tại địa phương
Cũng trong thời gian này, cả nước có khoảng 32,4 triệu lao động làm việc trong khu vực phi chính thức, chiếm 61,5% tổng số lao động có việc làm. Lao động làm công việc tự sản, tự tiêu là hơn 4,1 triệu người, trong đó phụ nữ chiếm 65,4%. Đây là nhóm công việc góp phần duy trì đời sống gia đình nhưng chưa chắc tạo ra nguồn thu nhập bằng tiền, cũng như chưa bảo đảm đầy đủ các chế độ an sinh cho người lao động.
Những con số này cho thấy, tạo việc làm cho phụ nữ không chỉ là giúp họ có một công việc mà còn phải hướng tới chất lượng việc làm, mức thu nhập và khả năng duy trì sinh kế lâu dài. Một phụ nữ tham gia sản xuất thường xuyên nhưng không có thu nhập riêng hoặc không được trả công xứng đáng vẫn chưa thực sự làm chủ về kinh tế.
Vì vậy, bên cạnh hỗ trợ vốn, đào tạo nghề và chuyển giao kỹ thuật, cần quan tâm phát triển các tổ hợp tác, hợp tác xã có sự tham gia của phụ nữ. Khi liên kết sản xuất và kinh doanh, các hộ gia đình có thể chia sẻ chi phí, kinh nghiệm, nâng cao khả năng thương lượng và mở rộng thị trường. Phụ nữ cũng có thêm cơ hội tham gia vào các khâu có giá trị gia tăng cao hơn, thay vì chỉ đảm nhận công việc sản xuất ban đầu.

Phụ nữ dân tộc thiểu số học nghề thêu, may trang phục truyền thống, nâng cao kỹ năng và tạo thêm cơ hội phát triển kinh tế
Thành công của một chương trình hỗ trợ không nên chỉ được tính bằng số người được vay vốn, số lớp học được tổ chức hay số mô hình được thành lập. Điều cần quan tâm hơn là sau hỗ trợ, bao nhiêu phụ nữ có việc làm, thu nhập được cải thiện ra sao, mô hình có duy trì được hoạt động hay không và có tạo thêm cơ hội việc làm cho những người khác.
Từ cặp trâu sinh sản của chị Hoàn, những cơ sở homestay liên kết tại Mường Lay của chị Toản, mỗi câu chuyện là một cách mở ra cơ hội kinh tế cho phụ nữ. Khi được tiếp cận đúng nguồn lực và có điều kiện phát huy năng lực, phụ nữ có thể trở thành chủ thể tạo dựng sinh kế cho bản thân, gia đình và cộng đồng. Một công việc phù hợp, thu nhập ổn định và quyền tự quyết định con đường phát triển kinh tế là nền tảng để họ vươn lên bền vững.