Tín dụng xanh: Khai thông dòng vốn để phụ nữ chủ động làm chủ sinh kế
Phụ nữ có thể trở thành lực lượng dẫn dắt các sáng kiến thích ứng khí hậu tại địa phương.
Chiến lược chuyển đổi xanh và phát triển kinh tế tuần hoàn chỉ thực sự bền vững khi cơ hội được chia đều cho tất cả. Để phụ nữ không dừng lại ở vai trò hỗ trợ hay công việc sinh kế nhỏ lẻ, dòng vốn tín dụng xanh cùng các cơ chế đồng bộ cần được đổi mới thiết thực, tháo gỡ tận gốc những rào cản giới từ thực tế.
Từ thế mạnh cộng đồng đến rào cản dòng vốn
Là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường, Việt Nam đứng trước yêu cầu cấp bách phải tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng bền vững. Để giải quyết áp lực song trùng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường, đồng thời thực hiện các cam kết quốc tế mạnh mẽ về giảm phát thải, Việt Nam đã phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050 tại Quyết định 1658/QĐ-TTg với yêu cầu chuyển đổi theo hướng công bằng, bao trùm.
Trên thực tế, phụ nữ Việt Nam từ lâu đã đóng vai trò là những "tác nhân xanh" tự nhiên trong đời sống thường nhật qua các công việc phân loại rác, tiết kiệm năng lượng hay bảo vệ tài nguyên địa phương. Gắn bó mật thiết với các hoạt động cộng đồng, thạc sĩ Nguyễn Ngọc Lý, nhà sáng lập Trung tâm Nghiên cứu Môi trường và Cộng đồng (CECR), nhìn nhận rằng hành trình vì môi trường bắt đầu từ những thay đổi rất nhỏ trong mỗi gia đình, nơi người phụ nữ giữ vai trò trung tâm. Sự gần gũi với đời sống tạo nên lợi thế hữu cơ cho phụ nữ, bởi khi nguồn nước bị ô nhiễm, thực phẩm không an toàn hay rác thải bủa vây, những vấn đề ấy tác động trực tiếp đến sức khỏe con cái và trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy họ hành động.

Thạc sĩ Nguyễn Ngọc Lý, nhà sáng lập Trung tâm Nghiên cứu Môi trường và Cộng đồng (CECR).
Tuy nhiên, bức tranh thực tế cho thấy đóng góp của phụ nữ thường chỉ dừng ở quy mô nhỏ lẻ, bấp bênh và thiếu sức bật kinh tế. Trong khi đó, các lĩnh vực có giá trị gia tăng cao như năng lượng tái tạo, công nghệ môi trường hay tài chính khí hậu lại chưa có những cơ chế đủ mạnh để thu hút và giữ chân lực lượng lao động nữ. Báo cáo chẩn đoán giới của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) chỉ ra rằng phụ nữ Việt Nam vẫn đối mặt với khoảng cách tiền lương, sự phân tầng nghề nghiệp và rào cản trong cơ hội thăng tiến. Trong bối cảnh đó, tín dụng xanh đóng vai trò như “chìa khóa vàng” và là đòn bẩy kinh tế có tính quyết định, không có nguồn tài chính xanh đủ lớn và linh hoạt, các sáng kiến xanh của phụ nữ mãi chỉ dừng lại ở mô hình thử nghiệm hoặc quy mô hộ gia đình, khó bứt phá thành các doanh nghiệp hay hợp tác xã có sức cạnh tranh trên thị trường.
Tuy nhiên, rào cản lớn nhất hiện nay là hầu hết các gói tín dụng xanh vẫn áp dụng tiêu chuẩn cứng nhắc về tài sản thế chấp đứng tên, lịch sử tín dụng chuẩn chỉnh và hồ sơ dự án đạt chuẩn kỹ thuật phức tạp, những điều kiện vốn đang đẩy các cơ sở kinh doanh do phụ nữ làm chủ ra bên ngoài dòng chảy tài chính chính thống.
Trao "cần câu" sinh kế và thước đo hiệu quả thực chất
Dù đối mặt với nhiều thách thức, khi được hỗ trợ đồng bộ cả kỹ năng, nguồn lực và kết nối thị trường, các mô hình do phụ nữ dẫn dắt đã chứng minh hiệu quả vượt trội. Tại Đà Nẵng, dự án do Liên minh châu Âu (EU) tài trợ phối hợp cùng Trung tâm Bảo tồn Đa dạng Sinh học Nước Việt Xanh (GreenViet) đã chắp cánh cho nhiều câu chuyện sinh kế xanh mang đậm dấu ấn bản địa. Đơn cử, ở phường Hải Vân, nhóm phụ nữ địa phương đã nghiên cứu sản xuất thành công nước rửa bát sinh học từ vỏ cam, biến phụ phẩm hữu cơ sinh hoạt thành sản phẩm thân thiện với môi trường. Còn tại vùng núi, phụ nữ dân tộc Cơ Tu từng bước xây dựng chuỗi sản xuất chè dây từ nguồn dược liệu bản địa.
Chia sẻ về sự đổi thay này, Bà Dương Thị Mỹ Hạnh, Phó Giám đốc Hợp tác xã Ba Tư, cho biết khi tham gia vào dự án kinh tế tuần hoàn, người dân được hỗ trợ toàn diện từ kiến thức, kỹ thuật đến các quy trình chế biến, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.

Mô hình sản xuất nước rửa bát sinh học được phụ nữ phường Hải Vân nghiên cứu và triển khai nhân rộng sau lớp tham quan học tập tại Hội An và Cù Lao Chàm.
Nhìn nhận về cách tiếp cận này, Ông Trần Hữu Vỹ, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Đa dạng Sinh học Nước Việt Xanh, nhấn mạnh việc ưu tiên nâng cao năng lực cho phụ nữ giống như việc cung cấp một "cần câu" để cộng đồng chủ động tạo ra sinh kế bền vững và lâu dài, thay vì chỉ tập trung vào các mô hình nhỏ lẻ ngắn hạn. Thực tế từ dự án đã ghi nhận những con số ấn tượng khi thu nhập của người tham gia dự kiến tăng lên 30% thông qua sản xuất kinh doanh xanh, và 70% người dân tại địa bàn đã hiểu rõ về kinh tế tuần hoàn.
Để dòng vốn tín dụng xanh thực sự mở đúng cánh cửa, các ngân hàng và quỹ tài chính cần công khai chỉ tiêu giới, minh bạch tỷ lệ dư nợ dành cho doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ cũng như tỷ lệ nữ giới giữ vị trí quản lý trong dự án. Đồng thời, hệ thống chỉ tiêu thống kê việc làm xanh tại Việt Nam cần tách biệt dữ liệu theo giới và khu vực cư trú. Thước đo thành công của chính sách không dừng ở số lượng người tham dự các lớp tập huấn, mà phải đánh giá qua tỷ lệ có việc làm thực tế, mức tăng thu nhập, tỷ lệ ký hợp đồng lao động, quyền tiếp cận an sinh xã hội và sự chủ động của doanh nghiệp trong việc tạo ra môi trường làm việc linh hoạt, an toàn cho nữ giới. Khi nguồn vốn tín dụng xanh được tháo gỡ đúng cách, phụ nữ sẽ bước vào vị trí của những người làm chủ: sở hữu tài sản, ứng dụng công nghệ, nắm giữ quyền quyết định và lan tỏa giá trị bền vững cho toàn xã hội.
Tín dụng xanh là hình thức cấp vốn của các TCTD (ngân hàng, quỹ tài chính) dành riêng cho các dự án kinh doanh, sản xuất không gây hại đến môi trường, giảm phát thải carbon và hướng tới phát triển bền vững. Tại Việt Nam, nguồn vốn này đang được triển khai mạnh mẽ qua định hướng của Ngân hàng Nhà nước, tập trung cho điện mặt trời, điện gió, nông nghiệp công nghệ cao và công trình xanh.
Dù vậy, phần lớn hạn mức tín dụng xanh hiện vẫn chảy vào các dự án hạ tầng quy mô lớn. Trong khi đó, các tiêu chí thẩm định kỹ thuật phức tạp cùng yêu cầu tài sản thế chấp khắt khe vẫn là "điểm nghẽn" khiến các doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã và các mô hình sinh kế do phụ nữ dẫn dắt rất khó tiếp cận.