Từ 1/11: Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5–6 tuổi
Ảnh minh họa
Trẻ 5–6 tuổi thuộc diện phổ cập giáo dục mầm non; 6 nhóm đối tượng được giảm 50% phí khai thác dữ liệu quốc gia. Cùng với đó, quy định mới về miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án và vận động hỗ trợ trong trường học chính thức được áp dụng.
Quy định rõ chuẩn phổ cập giáo dục
Nghị định 353/2026/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực từ ngày 1/11/2026, quy định về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5–6 tuổi, giáo dục bắt buộc ở cấp tiểu học và trung học cơ sở, xóa mù chữ cùng các điều kiện bảo đảm thực hiện.
Điểm đáng chú ý là nghị định quy định cụ thể tiêu chuẩn, hồ sơ, quy trình kiểm tra, công nhận đạt chuẩn và trách nhiệm của các cơ quan trong tổ chức thực hiện. Công tác điều tra, cập nhật, quản lý dữ liệu, kiểm tra và duy trì kết quả phổ cập được thực hiện trên môi trường số, đồng thời khai thác thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu của cơ quan nhà nước theo quy định.
Nghị định cũng quy định trách nhiệm bảo đảm điều kiện học tập, triển khai chính sách hỗ trợ người học và ưu tiên nguồn lực cho vùng dân tộc thiểu số, miền núi, địa bàn đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo.
Trẻ thuộc đối tượng phổ cập giáo dục mầm non từ 5 đến 6 tuổi và học sinh trong độ tuổi giáo dục bắt buộc được hưởng chính sách miễn, giảm, hỗ trợ học phí, chi phí học tập theo pháp luật liên quan. Người học chương trình xóa mù chữ được hỗ trợ tài liệu, học liệu và các điều kiện cần thiết theo quy định.
Nghị định thay thế Nghị định 20/2014/NĐ-CP về phổ cập giáo dục, xóa mù chữ.
6 nhóm đối tượng được giảm 50% phí khai thác dữ liệu
Thông tư 156/2026/TT-BTC của Bộ Tài chính có hiệu lực từ ngày 1/11/2026, quy định mức thu, giảm và chế độ thu, nộp phí khai thác, sử dụng thông tin trong Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia.
Theo Điều 4 của Thông tư, 6 nhóm cá nhân được giảm 50% phí gồm: trẻ em; cá nhân thuộc hộ nghèo; người cao tuổi; người khuyết tật; người có công với cách mạng; đồng bào dân tộc thiểu số tại các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Ảnh minh họa
Mức phí khai thác thông tin là 300 đồng/trường dữ liệu đến hết ngày 31/12/2028; từ ngày 1/1/2029 là 600 đồng/trường dữ liệu. Sau khi giảm 50%, mức phí tương ứng là 150 đồng và 300 đồng/trường dữ liệu. Người thuộc nhiều nhóm đối tượng vẫn chỉ được giảm 50%, không cộng dồn.
Thông tư cũng quy định trách nhiệm hoàn trả phí trong trường hợp thu trùng, thu vượt mức hoặc đã thu tiền nhưng không cung cấp được thông tin theo yêu cầu đã thanh toán.
Rõ thủ tục miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án
Thông tư liên tịch 11/2026/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao có hiệu lực từ ngày 1/11/2026, quy định một số thủ tục thi hành án dân sự, miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước và phối hợp liên ngành.
Thông tư quy định cụ thể việc xử lý bản án, quyết định chưa rõ hoặc khó thi hành; thủ tục đề nghị Tòa án sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định; phối hợp trong việc kiến nghị xem xét lại bản án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm; xác định giá tài sản kê biên và xử lý các vụ việc lớn, phức tạp, khó thi hành.
Đối với việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, văn bản quy định điều kiện, trình tự xác minh, lập hồ sơ, kiểm sát và xét miễn, giảm đối với các khoản thu nộp ngân sách nhà nước. Các khoản có thể được xem xét gồm tiền phạt, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí, lệ phí Tòa án và những khoản thu khác cho Nhà nước được xác định trong bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.
Thông tư cũng quy định thời hạn xác minh điều kiện miễn, giảm là 10 ngày kể từ khi có căn cứ; vụ việc phức tạp cần xác minh tại nhiều địa phương hoặc chờ thông tin có thể kéo dài nhưng không quá 20 ngày. Sau khi có kết quả xác minh, nếu người phải thi hành án đủ điều kiện, cơ quan thi hành án dân sự lập hồ sơ trong 5 ngày làm việc.
Hồ sơ đầy đủ được chuyển Viện kiểm sát để kiểm sát trong thời hạn 15 ngày; Viện kiểm sát có 15 ngày kể từ khi nhận hồ sơ để xem xét. Nếu yêu cầu bổ sung tài liệu hoặc giải thích nội dung chưa rõ, cơ quan thi hành án dân sự phải hoàn thiện trong 5 ngày làm việc.
Việc miễn, giảm phải đáp ứng điều kiện luật định, không đồng nghĩa với việc mọi khoản nợ hoặc nghĩa vụ tài chính đều được xóa. Thông tư liên tịch mới thay thế các văn bản trước đây về một số thủ tục thi hành án dân sự, miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án và phối hợp liên ngành.
Ban đại diện cha mẹ học sinh không được thu tiền hỗ trợ
Từ ngày 15/11/2026, Thông tư 81/2026/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Điều lệ Ban đại diện cha mẹ học sinh có hiệu lực, thay thế Thông tư 55/2011/TT-BGDĐT.
Điểm đáng chú ý là quy định rõ giới hạn vận động hỗ trợ hoạt động của Ban đại diện. Khi cần hỗ trợ một hoạt động cụ thể thuộc nhiệm vụ của ban, nội dung, mục đích và phương thức hỗ trợ phải được thông tin công khai; cha mẹ học sinh tự nguyện quyết định việc tham gia.
Ban đại diện không được thu, tiếp nhận hoặc quản lý tiền hỗ trợ; không ấn định mức đóng góp, yêu cầu mức tối thiểu, phân bổ bình quân hoặc lập danh sách cha mẹ học sinh phải hỗ trợ. Nếu nguồn hỗ trợ không đáp ứng nhu cầu, ban phải điều chỉnh nội dung, quy mô hoặc phương thức tổ chức hoạt động, không yêu cầu phụ huynh đóng thêm phần còn thiếu.
Thông tư cũng cấm Ban đại diện sử dụng danh nghĩa của mình để vận động tài trợ cho nhà trường hoặc thu, tiếp nhận, quản lý và sử dụng khoản tài trợ dành cho cơ sở giáo dục. Việc tài trợ cho nhà trường phải thực hiện theo quy định riêng.
Ngoài ra, Ban đại diện không được can thiệp vào hoạt động quản trị, điều hành, chuyên môn của nhà trường. Việc phối hợp giữa gia đình và nhà trường có thể thực hiện trực tiếp hoặc trực tuyến, nhưng không được bắt buộc phụ huynh sử dụng ứng dụng, nền tảng số hoặc dịch vụ có thu phí; đồng thời phải bảo đảm an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân và đời sống riêng tư của học sinh, gia đình.