Xem thêm thông tin của Báo PNVN trên
Phụ nữ Việt Nam
MỚI NHẤT ĐỘC QUYỀN MULTIMEDIA CHUYÊN ĐỀ
15/06/2026 - 07:46 (GMT+7)

Vai trò của Cảnh sát Kinh tế Hà Nội trong thực hiện Nghị quyết 68 - Kỳ 1: Bước ngoặt phát triển kinh tế tư nhân

Nguyễn Nhật Thanh
Vai trò của Cảnh sát Kinh tế Hà Nội trong thực hiện Nghị quyết 68 - Kỳ 1: Bước ngoặt phát triển kinh tế tư nhân

Vai trò của Cảnh sát Kinh tế Hà Nội trong thực hiện Nghị quyết 68: Bước ngoặt phát triển kinh tế tư nhân (Ảnh minh họa AI)

Nghị quyết số 68-NQ/TW mở ra thời kỳ phát triển mới cho kinh tế tư nhân với hàng loạt cơ chế đột phá về thể chế và chính sách. Để những chủ trương này đi vào cuộc sống, bên cạnh sự vào cuộc của các cấp, ngành, lực lượng Cảnh sát kinh tế giữ vai trò quan trọng trong bảo đảm an ninh kinh tế, phòng ngừa vi phạm pháp luật, bảo vệ môi trường đầu tư kinh doanh lành mạnh, tạo niềm tin cho cộng đồng doanh nghiệp phát triển bền vững.

Ngày 04/5/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân. Văn kiện này chính thức xác lập vị trí pháp lý của khu vực tư nhân là "một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia". Đây là sự thay đổi tư duy lập pháp mang tính đột phá. Mọi định kiến trong lịch sử quản lý nhà nước bị chấm dứt triệt để. Khu vực tư nhân hiện được đặt ngang hàng và giữ vai trò nòng cốt cùng kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể. Pháp luật quốc gia ghi nhận doanh nhân là lực lượng trung tâm trên mặt trận kinh tế. Việc ban hành nghị quyết tạo cơ sở chính trị vững chắc để Quốc hội và Chính phủ đẩy nhanh quá trình hoàn thiện thể chế. Cơ chế mới bảo vệ quyền tự do kinh doanh và quyền tài sản hợp pháp của công dân. Quan điểm của Đảng kiến tạo môi trường an toàn tuyệt đối cho giới đầu tư. Doanh nghiệp tư nhân được xác định là lực lượng tiên phong trong phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Thực tiễn thi hành chính sách kinh tế thời gian qua chứng minh sự đóng góp to lớn của khối tư nhân. Nền kinh tế hiện ghi nhận sự hoạt động của khoảng 1.000.000 doanh nghiệp và 5.000.000 hộ kinh doanh cá thể. Khu vực này đóng góp khoảng 50% tổng sản phẩm nội địa và hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước. Các doanh nghiệp tư nhân giải quyết việc làm cho hơn 82% tổng số lao động toàn quốc. Dòng vốn tư nhân đóng góp gần 60% vốn đầu tư toàn xã hội. Mặc dù số liệu thống kê đạt mức cao, năng lực nội tại của khu vực này vẫn bộc lộ nhiều hạn chế. Khoảng 98% số doanh nghiệp có quy mô nhỏ, siêu nhỏ và vừa. Khả năng tiếp cận các nguồn lực cốt lõi như vốn tín dụng và đất đai gặp nhiều rào cản hành chính. Hệ thống pháp luật còn những quy định chồng chéo. Sự thiếu đồng bộ gây phát sinh chi phí tuân thủ lớn cho pháp nhân. Tỷ lệ doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu và phát triển còn thấp do e ngại rủi ro pháp lý. Tình trạng này đòi hỏi một cuộc cải cách thể chế sâu rộng. Quá trình cải cách phải hướng tới việc xóa bỏ triệt để cơ chế "xin - cho" và tư duy cấm đoán trong xây dựng chính sách.

Sự phát triển tư duy lập pháp về kinh tế tư nhân là một quá trình vận động biện chứng. Quá trình này kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo đảm quyền sở hữu và định hướng phát triển kinh tế nhiều thành phần. Quan điểm cốt lõi là Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu tư liệu sản xuất và hướng dẫn hoạt động kinh doanh làm lợi cho quốc kế dân sinh. Nghị quyết số 68-NQ/TW kế thừa triết lý này và chuyển hóa thành các quy phạm pháp luật mang tính bắt buộc. Hiến pháp và pháp luật bảo đảm quyền cạnh tranh bình đẳng của kinh tế tư nhân. Các chủ thể kinh tế thuộc mọi thành phần không bị phân biệt đối xử trong huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực. Hệ thống pháp luật thiết lập cơ chế xử lý nghiêm minh các hành vi lạm quyền, nhũng nhiễu gây khó khăn cho doanh nghiệp. Việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và tài sản vô hình được đặt làm trọng tâm trong kỷ nguyên số.

Nghị quyết số 68-NQ/TW thiết lập nguyên tắc pháp lý tối thượng trong việc xử lý các vi phạm phát sinh trong hoạt động thương mại. Nguyên tắc này yêu cầu phân định rạch ròi trách nhiệm hình sự với hành vi vi phạm hành chính và trách nhiệm dân sự. Cơ quan tiến hành tố tụng phải ưu tiên áp dụng các biện pháp dân sự, kinh tế và hành chính đối với các sai phạm của doanh nghiệp. Việc xử lý hình sự chỉ được xem xét áp dụng khi không còn phương thức giải quyết nào khác theo quy định pháp luật. Đây là cơ chế bảo đảm an toàn pháp lý mang tính nền tảng. Cơ quan nhà nước phải tôn trọng tuyệt đối nguyên tắc suy đoán vô tội trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử. Việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế như niêm phong, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản phải tuân thủ nghiêm ngặt thẩm quyền và giới hạn luật định. Tài sản hình thành hợp pháp của pháp nhân và cá nhân được bảo vệ tách biệt hoàn toàn khỏi tài sản do vi phạm pháp luật mà có. Những quy định này trực tiếp loại bỏ rào cản tâm lý của giới doanh nhân khi ra quyết định đầu tư dài hạn. Doanh nghiệp vi phạm được tạo cơ hội chủ động khắc phục hậu quả nhằm miễn trừ hoặc giảm nhẹ trách nhiệm pháp lý. Hành vi lạm dụng các biện pháp tố tụng gây đình trệ sản xuất kinh doanh bị nghiêm cấm triệt để.

Sự bảo đảm về mặt pháp lý còn thể hiện rõ trong việc chuyển đổi phương thức quản lý hành chính nhà nước. Cơ quan chức năng thực hiện quá trình chuyển mạnh từ tư duy "tiền kiểm" sang "hậu kiểm". Sự dịch chuyển này đi kèm với mục tiêu bắt buộc cắt giảm ít nhất 30% thời gian xử lý thủ tục hành chính. Pháp luật quy định cắt giảm ít nhất 30% chi phí tuân thủ pháp luật và 30% điều kiện kinh doanh cho doanh nghiệp. Các quy định cản trở quyền tự do kinh doanh bị loại bỏ nhằm thiết lập môi trường đầu tư thông thoáng, minh bạch và ổn định. Việc thanh tra, kiểm tra được giới hạn chặt chẽ theo luật định. Số lần thanh tra, kiểm tra đối với mỗi doanh nghiệp không được vượt quá 1 lần trong 1 năm. Cơ quan nhà nước chỉ được thực hiện thanh tra đột xuất khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật rõ ràng. Quy định này ngăn chặn triệt để hành vi lạm quyền gây khó khăn cho hoạt động sản xuất bình thường. Các quyết định tư pháp trong giải quyết phá sản doanh nghiệp cũng được yêu cầu mở rộng thủ tục rút gọn. Thời gian giải quyết phá sản phải được rút ngắn tối thiểu 30% nhằm tiết kiệm chi phí cho các bên liên quan.

Việc thể chế hóa Nghị quyết số 68-NQ/TW được Quốc hội thực hiện thông qua Nghị quyết số 198/2025/QH15 ban hành ngày 17/5/2025. Khung pháp lý mới mang tính đặc thù, bắt buộc các địa phương phải dành quỹ đất tối thiểu 20 héc-ta tại mỗi khu công nghiệp, cụm công nghiệp. Trường hợp tính theo tỷ lệ, định mức là 5% tổng quỹ đất công nghiệp trên địa bàn. Quỹ đất này được phân bổ độc quyền cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp công nghệ cao và doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Các doanh nghiệp này được giảm tối thiểu 30% tiền thuê đất trong 5 năm đầu kể từ ngày ký hợp đồng. Về chính sách tài chính, pháp luật quy định miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm đầu đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa mới được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh lần đầu. Nhà nước bãi bỏ hoàn toàn lệ phí môn bài từ ngày 01/01/2026. Phương pháp thuế khoán đối với hộ kinh doanh cũng chính thức chấm dứt áp dụng từ ngày 01/01/2026. Doanh nghiệp tư nhân được Nhà nước hỗ trợ lãi suất 2%/năm khi vay vốn thực hiện các dự án xanh, tuần hoàn và áp dụng tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị. Các quy định này trực tiếp cắt giảm chi phí tuân thủ, tạo không gian tự chủ tài chính cho pháp nhân thương mại.

Khung pháp lý mới tạo động lực phát triển đối với hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Pháp luật hiện hành cho phép doanh nghiệp được tính tối đa 200% chi phí thực tế cho hoạt động nghiên cứu và phát triển vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế. Doanh nghiệp được phép trích tối đa 20% thu nhập tính thuế hằng năm để lập quỹ phát triển khoa học công nghệ. Quỹ này được sử dụng tự chủ để đổi mới công nghệ, đào tạo nhân lực và phục vụ chuyển đổi số. Doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, trung tâm đổi mới sáng tạo và cơ sở ươm tạo công nghệ được miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ chuyển nhượng vốn góp. Chuyên gia, nhà khoa học làm việc tại các trung tâm này được miễn thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công trong thời hạn 2 năm và giảm 50% trong 4 năm tiếp theo. Hệ thống pháp luật đồng thời thiết lập cơ chế thử nghiệm có kiểm soát. Cơ chế này áp dụng riêng cho các mô hình kinh doanh mới dựa trên công nghệ chuỗi khối, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo.

Vai trò của Cảnh sát Kinh tế Hà Nội trong thực hiện Nghị quyết 68 - Kỳ 1: Bước ngoặt phát triển kinh tế tư nhân - Ảnh 2.

Nghị quyết số 68-NQ/TW mở ra thời kỳ phát triển mới cho kinh tế tư nhân với hàng loạt cơ chế đột phá về thể chế và chính sách

Quá trình cải cách thể chế tập trung vào việc khơi thông các nguồn lực tham gia đấu thầu và mua sắm công. Các gói thầu xây lắp, mua sắm hàng hóa có giá trị không quá 20.000.000.000 đồng được pháp luật quy định dành riêng cho doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và doanh nghiệp khởi nghiệp. Cơ chế này trực tiếp phân bổ nguồn vốn nhà nước nhằm nuôi dưỡng doanh nghiệp tư nhân trong giai đoạn đầu phát triển. Quy định về đặt hàng, đấu thầu hạn chế hoặc chỉ định thầu được áp dụng đối với các dự án trọng điểm quốc gia. Sự mở rộng thẩm quyền này cho phép các tập đoàn kinh tế tư nhân tham gia sâu vào các lĩnh vực chiến lược, bao gồm đường sắt tốc độ cao, công nghiệp mũi nhọn, hạ tầng số và an ninh quốc phòng. Cơ quan công quyền đóng vai trò thiết lập hành lang pháp lý thay vì làm thay doanh nghiệp. Sự tham gia của khối tư nhân mang lại hiệu quả quản trị vượt trội, tối ưu hóa nguồn vốn và đẩy nhanh tiến độ hoàn thành công trình.

Chất lượng nguồn nhân lực phục vụ kinh tế tư nhân được luật hóa thành mục tiêu trọng tâm. Bộ Tài chính triển khai Quyết định số 525/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình đào tạo 10.000 giám đốc điều hành đến năm 2030. Chương trình này cung cấp các khoản tài trợ dưới hình thức phiếu học bổng. Doanh nghiệp tự chủ lựa chọn dịch vụ đào tạo phù hợp để nâng cao năng lực quản trị chiến lược, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Đây là giải pháp giải quyết điểm nghẽn về năng lực quản trị của các pháp nhân vừa và nhỏ. Pháp luật quy định ngân sách nhà nước cung cấp miễn phí các phần mềm kế toán dùng chung, dịch vụ tư vấn pháp lý và đào tạo nhân sự cho doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và hộ kinh doanh. Các rào cản thông tin giữa hệ thống ngân hàng, cơ quan thuế và hải quan được yêu cầu tháo gỡ. Sự liên thông dữ liệu giúp chấm điểm tín dụng minh bạch, qua đó tăng cường khả năng tiếp cận vốn vay tín chấp cho pháp nhân.

Nghị quyết 68-NQ/TW đã tạo cú hích lớn cho tinh thần khởi nghiệp. Từ tháng 5/2025, trung bình mỗi tháng có khoảng 18 nghìn doanh nghiệp mới, tăng 37,8% so với 4 tháng đầu năm; hơn 8,3 nghìn doanh nghiệp quay lại hoạt động. Năm 2025, tổng cộng gần 297,5 nghìn doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường, tăng 27,4% so với 2024, với vốn bổ sung gần 6,4 triệu tỷ đồng (+77,8%).

Bốn tháng đầu 2026 tiếp tục sôi động: gần 75 nghìn doanh nghiệp mới, vốn hơn 730 nghìn tỷ đồng, 400 nghìn lao động; cùng hơn 48 nghìn doanh nghiệp quay lại, nâng tổng số lên gần 123 nghìn (+36,7%). Tính đến 18/5/2026, cả nước có hơn 1,062 triệu doanh nghiệp đang hoạt động.

Nghị quyết số 68-NQ/TW thiết lập các mục tiêu chiến lược mang tính định lượng rõ ràng. Hệ thống pháp luật kinh tế hướng tới mục tiêu phát triển ít nhất 2.000.000 doanh nghiệp vào năm 2030. Tốc độ tăng trưởng bình quân của khu vực kinh tế tư nhân phải đạt từ 10% đến 12% mỗi năm. Khu vực này được kỳ vọng đóng góp từ 55% đến 58% tổng sản phẩm nội địa và giải quyết việc làm cho 84% đến 85% tổng số lao động. Năng suất lao động yêu cầu tăng bình quân từ 8,5% đến 9,5% mỗi năm. Việt Nam phải có ít nhất 20 doanh nghiệp tư nhân lớn tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Tầm nhìn lập pháp đến năm 2045 xác định cả nước có ít nhất 3.000.000 doanh nghiệp hoạt động. Mức đóng góp vào tổng sản phẩm nội địa phải vượt ngưỡng 60%. Quyết tâm chính trị của Đảng đã được Quốc hội chuyển hóa thành các quy phạm pháp luật cụ thể. Cơ sở pháp lý này là yếu tố cốt lõi để duy trì sự ổn định của môi trường đầu tư kinh doanh. Mọi chủ thể vi phạm quyền tự do kinh doanh của công dân đều bị xử lý nghiêm khắc. Nghị quyết số 68-NQ/TW xác lập nền tảng luật pháp vững chắc, đưa kinh tế tư nhân phát triển trong kỷ nguyên mới của quốc gia.


(Còn nữa)

Ý kiến của bạn
Bình luận
Xem thêm bình luận