Xem thêm thông tin của Báo PNVN trên
Phụ nữ Việt Nam
MỚI NHẤT ĐỘC QUYỀN MULTIMEDIA CHUYÊN ĐỀ

Việt Nam cần gì để làm chủ công nghệ lõi? - Bài cuối: Không thể chỉ thu hút người tài hay đầu tư thêm phòng thí nghiệm

Thùy Linh
Việt Nam cần gì để làm chủ công nghệ lõi? - Bài cuối: Không thể chỉ thu hút người tài hay đầu tư thêm phòng thí nghiệm

Từ phòng thí nghiệm đến sản phẩm là một hành trình dài, đòi hỏi những nhóm nghiên cứu đủ mạnh, hạ tầng phù hợp và một “cây cầu” kết nối với doanh nghiệp. Ảnh minh họa

Muốn làm chủ công nghệ lõi, Việt Nam không thể chỉ thu hút người tài trở về hay đầu tư thêm phòng thí nghiệm. Theo GS.TS Phan Mạnh Hưởng, điều quan trọng hơn là hình thành những mạng lưới nghiên cứu thực chất, những nhóm khoa học đủ mạnh và một “đoạn nối” đưa kết quả từ phòng thí nghiệm đến doanh nghiệp. Khi đó, trí thức Việt Nam trên toàn cầu có thể trở thành nguồn “kiều hối tri thức”, còn những ý tưởng khoa học mới có cơ hội trở thành công nghệ và sản phẩm.

Không phải cứ có nghiên cứu là có công nghệ

Một trong những khoảng cách lớn của khoa học Việt Nam, theo GS.TS Phan Mạnh Hưởng, Giáo sư Vật lý tại Đại học South Florida (Mỹ), thành viên sáng lập Mạng lưới Vật liệu số Việt Nam Toàn cầu (VGN-DM), Giám đốc Trung tâm Đổi mới công nghệ Vật liệu (CMIT) tại VinUniversity, nằm ở chính đoạn đường từ một ý tưởng tốt trong phòng thí nghiệm đến một công nghệ có thể được doanh nghiệp sử dụng.

Với vật liệu mới, khoảng cách này đặc biệt lớn. Lịch sử công nghệ cho thấy có thể mất 10-20 năm từ lúc phát hiện một vật liệu đến khi được triển khai vào sản phẩm. Vì vậy, nếu muốn rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu và sản xuất, Việt Nam không chỉ cần phòng thí nghiệm tốt mà còn cần hạ tầng dùng chung, các nhóm nghiên cứu liên ngành và cơ chế kết nối liên tục giữa nghiên cứu, thử nghiệm và sản xuất.

Theo GS. Hưởng, một ý tưởng khoa học muốn đi đến thị trường phải trả lời nhiều câu hỏi bên cạnh tính mới về mặt khoa học: công nghệ đó giải quyết vấn đề gì, có thể sản xuất ở quy mô lớn hay không, chi phí thế nào, độ bền ra sao, nguyên liệu có sẵn hay không và có đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật, môi trường hay không.

Muốn làm chủ công nghệ lõi, Việt Nam phải tạo ra những người có khả năng làm điều thế giới chưa làm – Bài cuối: Từ “kiều hối tri thức” đến cây cầu đưa công nghệ ra thị trường - Ảnh 1.

GS.TS Phan Mạnh Hưởng: "Đừng đào tạo người trẻ để họ trở thành người giỏi nhất trong việc làm những gì thế giới đã làm. Hãy đào tạo họ để có khả năng làm những điều thế giới chưa làm"

Sau khi chứng minh được nguyên lý, công nghệ còn phải trải qua một chuỗi phát triển dài: làm mẫu thử, tối ưu hóa, tạo mẫu thử nghiệm, thử nghiệm trong điều kiện thực tế, sản xuất thử, đánh giá tiêu chuẩn rồi mới có thể tiến tới sản xuất quy mô lớn.

Đây chính là khoảng trống mà GS. Hưởng cho rằng Việt Nam đang thiếu. Một trường đại học có thể rất giỏi trong việc tạo ra vật liệu mới, nhưng doanh nghiệp lại cần biết vật liệu đó có thể sản xuất ở quy mô 1 kg, 1 tấn hay 100 tấn với chi phí bao nhiêu.

Giữa phòng thí nghiệm và nhà máy cần một tầng trung gian

Đó không chỉ là một phòng thí nghiệm hiện đại hơn, mà phải là nơi có mẫu thử nghiệm, phòng thí nghiệm dùng chung, dây chuyền thử nghiệm, chuyên gia kỹ thuật, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn, nguồn vốn và cơ chế thương mại hóa.

GS. Hưởng hình dung Trung tâm Đổi mới Công nghệ Vật liệu mà ông tham gia xây dựng như một "cây cầu" kết nối nghiên cứu với thực tiễn, công nghệ với doanh nghiệp, ý tưởng đột phá với giá trị tạo ra cho xã hội. Một đầu cầu là giáo sư, nhà khoa học, sinh viên, nghiên cứu sinh; đầu kia là doanh nghiệp, sản phẩm, thị trường và những bài toán công nghệ. Ở giữa phải có cả một hệ thống giúp một kết quả nghiên cứu có thể đi tiếp đến sản xuất.

Điều này cũng đòi hỏi ngay từ khi bắt đầu một đề tài, nhà khoa học phải nhìn xa hơn câu hỏi "có công bố được hay không", để quan tâm đến khả năng phát triển, thử nghiệm và ứng dụng của kết quả nghiên cứu. Khi đó, nghiên cứu khoa học không bị tách khỏi nhu cầu của doanh nghiệp, còn doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận sớm hơn với những công nghệ có tiềm năng.

Đừng chỉ mời người tài về nước

Một điểm đáng chú ý trong quan điểm của GS. Hưởng là cách tiếp cận với cộng đồng trí thức Việt Nam ở nước ngoài.

Theo ông, Việt Nam không nhất thiết phải yêu cầu một giáo sư đang làm việc tại Mỹ, Anh hay châu Âu trở về nước lâu dài. Điều quan trọng hơn là tạo ra cơ chế để họ, dù đang sống ở đâu, vẫn có thể trở thành một phần thường trực của hệ sinh thái nghiên cứu Việt Nam.

Muốn làm chủ công nghệ lõi, Việt Nam phải tạo ra những người có khả năng làm điều thế giới chưa làm – Bài cuối: Từ “kiều hối tri thức” đến cây cầu đưa công nghệ ra thị trường - Ảnh 2.

GS Phan Mạnh Hưởng tại phòng thí nghiệm ở trường ĐH Nam Florida

Một giáo sư ở nước ngoài có thể đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh tại Việt Nam, cùng xây dựng đề tài, triển khai dự án chung và kết nối với phòng thí nghiệm trong nước. Nghiên cứu sinh có thể làm thí nghiệm thường xuyên tại Việt Nam, đồng thời sang phòng thí nghiệm của đối tác quốc tế để tiếp cận những thiết bị đặc biệt và phương pháp nghiên cứu tiên tiến. Hai nhóm có thể cùng công bố kết quả, tiếp tục phát triển và từng bước đưa kết quả nghiên cứu thành công nghệ.

Khi đó, một chuyến về nước hay một hội thảo không còn là mục tiêu cuối cùng. Quan hệ hợp tác có thể được duy trì trong nhiều năm và tạo ra cả một thế hệ nghiên cứu trẻ.

GS. Hưởng gọi đó là "kiều hối tri thức".

Không chỉ đưa một người về Việt Nam, mà đưa cả mạng lưới tri thức, phương pháp nghiên cứu, tiêu chuẩn quốc tế và cơ hội hợp tác về với đất nước.

Để làm được điều này, Việt Nam cần chuyển từ "hội thảo và MOU" sang những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể; tài trợ cho mạng lưới thay vì chỉ tài trợ từng cá nhân; xây dựng các phòng thí nghiệm dùng chung giữa Việt Nam và các đối tác quốc tế; đồng thời tạo điều kiện để các nhà khoa học ở nước ngoài có thể tham gia đào tạo, hướng dẫn và nghiên cứu với các nhóm trong nước.

Bởi không thể chỉ nói với một giáo sư ở Mỹ rằng: "Hãy về giúp Việt Nam".

Họ cũng có nhóm nghiên cứu, sinh viên, nguồn tài trợ và sự nghiệp khoa học ở nước sở tại. Việt Nam phải đưa ra những bài toán mà các nhóm quốc tế cũng muốn nghiên cứu, có nguồn nguyên liệu, dữ liệu, điều kiện tự nhiên hoặc thị trường thử nghiệm có giá trị. Khi đó, giáo sư ở nước ngoài không phải "cho Việt Nam một thứ gì đó", mà cùng Việt Nam tạo ra một thứ mới.

Đây cũng là cách để "kiều hối tri thức" không chỉ dừng ở việc kết nối con người, mà trở thành một nguồn lực lâu dài cho năng lực nghiên cứu và đổi mới sáng tạo trong nước.

Tập trung cho tinh hoa nhưng không để tài năng trẻ bị bỏ lại

Nếu nguồn lực có hạn, Việt Nam nên chia đều cơ hội nghiên cứu hay tập trung đầu tư cho một số nhóm xuất sắc?

Theo ông, Việt Nam cần tập trung nguồn lực đủ lớn và đủ dài cho một số nhóm nghiên cứu có khả năng vươn tới chuẩn quốc tế. Nhưng những nhóm này không được trở thành những "ốc đảo tinh hoa", mà phải là hạt nhân đào tạo, dẫn dắt và kéo theo thế hệ nghiên cứu trẻ.

Ông hình dung một mô hình giống như "tháp nghiên cứu". Ở đỉnh tháp là một số nhóm nghiên cứu tinh hoa trong những lĩnh vực Việt Nam có nhu cầu, có lợi thế hoặc có khả năng tạo đột phá như vật liệu mới, bán dẫn, AI, năng lượng mới, công nghệ sinh học hay công nghệ lượng tử.

Muốn làm chủ công nghệ lõi, Việt Nam phải tạo ra những người có khả năng làm điều thế giới chưa làm – Bài cuối: Từ “kiều hối tri thức” đến cây cầu đưa công nghệ ra thị trường - Ảnh 3.

Ảnh minh họa

Những nhóm này cần được đầu tư đủ mạnh và đủ dài, có trưởng nhóm tầm quốc tế, nghiên cứu sau tiến sĩ và nghiên cứu sinh chất lượng cao, phòng thí nghiệm hiện đại, nguồn kinh phí ổn định trong nhiều năm, mạng lưới hợp tác quốc tế và liên kết với doanh nghiệp.

Nhưng tầng giữa phải là các nhóm nghiên cứu trẻ và những nhóm đang phát triển. Một nghiên cứu sinh giỏi hôm nay phải có cơ hội trở thành trưởng nhóm sau 5-10 năm.

Tầng rộng nhất là sinh viên, nghiên cứu sinh và các nhà khoa học trẻ. Họ cần được tiếp cận phòng thí nghiệm, hội thảo chuyên môn, dữ liệu, chương trình cố vấn và các dự án của những nhóm mạnh.

Như vậy, nguồn lực được tập trung nhưng cơ hội được lan tỏa. Một người trẻ không nhất thiết phải thuộc nhóm tinh hoa ngay từ đầu, nhưng phải có con đường để bước vào và vươn lên.

Theo cách đó, việc đầu tư cho một số nhóm dẫn đầu không chỉ nhằm tạo ra vài "ngọn cờ" về khoa học, mà còn phải tạo hiệu ứng lan tỏa để hình thành lớp kế cận. Một hệ sinh thái nghiên cứu mạnh phải có khả năng liên tục tạo ra những trưởng nhóm mới, những hướng nghiên cứu mới và những thế hệ nhà khoa học mới.

AI cần được đặt trong một hệ sinh thái nghiên cứu mạnh

AI đang làm thay đổi mạnh mẽ cách các nhà khoa học nghiên cứu. Trong khoa học vật liệu, AI có thể giúp sàng lọc lượng lớn vật liệu tiềm năng, dự đoán tính chất, tối ưu cấu trúc và hỗ trợ thiết kế thí nghiệm, qua đó rút ngắn đáng kể thời gian từ giả thuyết đến thử nghiệm.

Nhưng theo GS. Hưởng, điều quan trọng là không nên nhìn AI như một giải pháp thay thế cho năng lực nghiên cứu. AI có thể giúp một nhóm nghiên cứu làm nhanh hơn, xử lý nhiều dữ liệu hơn và thử nghiệm nhiều khả năng hơn, nhưng để biến một kết quả thành công nghệ vẫn cần con người, thiết bị, quy trình thử nghiệm, nguồn vốn và doanh nghiệp.

Một mô hình AI có thể dự đoán một vật liệu tiềm năng, nhưng từ dự đoán đó đến một sản phẩm thực tế vẫn là một hành trình dài. Cần có người hiểu vật liệu, phòng thí nghiệm để kiểm chứng, kỹ sư để tối ưu quy trình, doanh nghiệp để thử nghiệm và nguồn lực để mở rộng sản xuất.

Muốn làm chủ công nghệ lõi, Việt Nam phải tạo ra những người có khả năng làm điều thế giới chưa làm – Bài cuối: Từ “kiều hối tri thức” đến cây cầu đưa công nghệ ra thị trường - Ảnh 4.

Ảnh minh họa: AI

Vì vậy, vấn đề không chỉ là AI có thể làm được bao nhiêu phần việc của nhà khoa học, mà là AI có thể giúp những nhóm nghiên cứu mạnh của Việt Nam đi nhanh hơn đến đâu.

Khi được đặt trong một hệ sinh thái đủ tốt, AI có thể trở thành công cụ giúp Việt Nam rút ngắn một số công đoạn nghiên cứu và mở rộng năng lực khám phá. Nhưng để biến lợi thế đó thành công nghệ, Việt Nam vẫn cần những nhóm nghiên cứu đủ mạnh, hạ tầng đủ tốt và một cơ chế đủ linh hoạt để kết nối với doanh nghiệp.

Muốn làm chủ công nghệ, phải xây cả một con đường

Nếu 10 năm nữa Việt Nam vẫn phải nhập phần lớn công nghệ lõi, theo GS. Hưởng, điều đáng lo nhất không phải là chúng ta đã bỏ lỡ một công nghệ hay một thiết bị?

Điều có thể bị bỏ lỡ là một thế hệ trí thức trẻ có khả năng tạo ra tri thức mới và dẫn dắt công nghệ. Công nghệ có thể mua. Thiết bị có thể đầu tư. Một số chuyên gia có thể thu hút từ nước ngoài. Nhưng năng lực sáng tạo không thể mua trong một sớm một chiều.

Một sinh viên hôm nay cần có cơ hội trở thành nghiên cứu sinh; nghiên cứu sinh trở thành nhà khoa học độc lập; rồi nhà khoa học trẻ trở thành trưởng nhóm có khả năng tạo ra công nghệ mới. Để hành trình đó không bị đứt gãy, Việt Nam cần đồng thời xây dựng con người, nhóm nghiên cứu, hạ tầng dùng chung, mạng lưới quốc tế và cơ chế đưa kết quả nghiên cứu đến doanh nghiệp.

Trong bài viết trước, chúng tôi đã đặt ra câu hỏi Việt Nam cần đào tạo những con người như thế nào để làm chủ công nghệ, còn bài viết cho thấy một câu hỏi khác không kém phần quan trọng: Làm thế nào để những con người đó có đất để phát huy năng lực và biến tri thức thành công nghệ?

Theo GS. Hưởng, câu trả lời không nằm ở một phòng thí nghiệm đơn lẻ hay một chương trình thu hút nhân tài riêng biệt. Đó phải là cả một hệ sinh thái, trong đó nhà khoa học, trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và mạng lưới trí thức Việt Nam toàn cầu cùng tham gia vào một chuỗi giá trị nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.

Khi đó, "kiều hối tri thức" không chỉ là việc đưa người tài, kinh nghiệm hay mạng lưới về Việt Nam, mà trở thành năng lực cùng thế giới tạo ra những giá trị mới. Những phòng thí nghiệm không chỉ tạo ra bài báo, mà tạo ra công nghệ; doanh nghiệp không chỉ mua công nghệ, mà cùng tham gia phát triển công nghệ; còn người trẻ không chỉ học những gì thế giới đã biết, mà có cơ hội tạo ra những điều chưa có.

"Đừng đào tạo người trẻ để họ trở thành người giỏi nhất trong việc làm những gì thế giới đã làm. Hãy đào tạo họ để có khả năng làm những điều thế giới chưa làm", GS Hưởng chia sẻ.

Ý kiến của bạn
Bình luận