5 tiêu chí phân nhóm người nộp thuế từ năm 2026: Ai được ưu tiên, ai sẽ bị giám sát chặt?
Ảnh minh họa
Thông tư số 89/2026/TT-BTC của Bộ Tài chính lần đầu hướng dẫn cụ thể việc phân nhóm người nộp thuế theo 5 tiêu chí. Việc phân loại này không làm phát sinh nghĩa vụ thuế mới nhưng sẽ quyết định mức độ hỗ trợ, giám sát và các biện pháp quản lý mà cơ quan thuế áp dụng đối với từng người nộp thuế.
Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 89/2026/TT-BTC hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định số 252/2026/NĐ-CP. Một trong những nội dung đáng chú ý là quy định về phân nhóm người nộp thuế nhằm nâng cao hiệu quả quản lý trên cơ sở đánh giá mức độ tuân thủ và mức độ rủi ro của từng đối tượng.
Theo quy định, việc phân nhóm được thực hiện trên cơ sở dữ liệu của Hệ thống thông tin quản lý thuế và các nguồn dữ liệu được kết nối, chia sẻ từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định của pháp luật. Thông tin sẽ được cập nhật định kỳ hoặc ngay khi có sự thay đổi, giúp cơ quan thuế theo dõi sát tình hình thực hiện nghĩa vụ thuế của từng người nộp thuế.
5 tiêu chí phân nhóm người nộp thuế
Theo Thông tư số 89/2026/TT-BTC, cơ quan thuế phân nhóm người nộp thuế dựa trên 5 tiêu chí:
1. Phạm vi địa bàn hoạt động và đăng ký thuế: Địa bàn đăng ký thuế và phạm vi hoạt động của người nộp thuế.
2. Loại hình người nộp thuế: Doanh nghiệp, tổ chức; Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh; Cá nhân phát sinh nghĩa vụ thuế; Các tổ chức và đối tượng khác.
3. Quy mô hoạt động: Doanh thu; Số nộp ngân sách nhà nước; Quy mô vốn, tài sản; Số lượng lao động; Số đơn vị phụ thuộc, địa điểm kinh doanh.
4. Ngành nghề, lĩnh vực và phương thức hoạt động: Sản xuất, thương mại, dịch vụ; Vận tải, tài chính, xây lắp; Bất động sản; Thương mại điện tử, kinh doanh trên nền tảng số; Giao dịch xuyên biên giới; Các lĩnh vực khác theo yêu cầu quản lý.
5. Mức độ tuân thủ pháp luật về thuế và mức độ rủi ro: Đánh giá trên cơ sở lịch sử chấp hành nghĩa vụ thuế và mức độ rủi ro phát sinh trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế.
Cơ quan thuế sẽ đánh giá những nội dung nào?
Sau khi phân nhóm, cơ quan thuế tiếp tục phân tích dữ liệu để đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật về thuế và mức độ rủi ro về thuế của từng người nộp thuế. Đây là căn cứ quan trọng để quyết định doanh nghiệp, hộ kinh doanh hay cá nhân sẽ được áp dụng cơ chế quản lý theo hướng ưu tiên, hỗ trợ hay tăng cường kiểm tra, giám sát.
Đối với mức độ tuân thủ, cơ quan thuế không chỉ xem xét việc người nộp thuế có thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đăng ký, kê khai và nộp thuế đúng thời hạn hay không, mà còn đánh giá toàn bộ "lịch sử tuân thủ". Các tiêu chí bao gồm tình trạng nợ thuế, việc chấp hành các quyết định xử lý của cơ quan thuế, kết quả thanh tra, kiểm tra cũng như mức độ hợp tác trong quá trình làm việc với cơ quan quản lý.

Điều này đồng nghĩa, một doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh thường xuyên kê khai đúng, nộp thuế đúng hạn, không phát sinh nợ thuế và chấp hành đầy đủ các yêu cầu của cơ quan thuế sẽ được đánh giá có mức độ tuân thủ cao. Ngược lại, các trường hợp thường xuyên chậm kê khai, nợ thuế hoặc vi phạm quy định sẽ bị đánh giá ở mức tuân thủ thấp hơn.
Song song với đó, mức độ rủi ro về thuế được xác định thông qua việc phân tích dữ liệu từ Hệ thống thông tin quản lý thuế và các nguồn dữ liệu được kết nối, chia sẻ. Việc đánh giá tập trung vào những lĩnh vực có nguy cơ phát sinh sai phạm như sử dụng hóa đơn điện tử, hoàn thuế, miễn, giảm thuế, xác định nghĩa vụ thuế và các dấu hiệu bất thường trong hoạt động kê khai, nộp thuế.
Đáng chú ý, ngoài các tiêu chí cố định, cơ quan thuế có thể bổ sung các chỉ báo rủi ro theo yêu cầu quản lý trong từng thời kỳ, nhất là đối với các lĩnh vực phát triển nhanh như thương mại điện tử, kinh doanh trên nền tảng số hay giao dịch xuyên biên giới.
Việc đánh giá này sẽ được cập nhật định kỳ hoặc ngay khi thông tin của người nộp thuế có thay đổi. Vì vậy, mức độ tuân thủ và mức độ rủi ro không phải là kết quả cố định mà có thể được cải thiện hoặc giảm xuống tùy theo quá trình chấp hành pháp luật thuế của từng tổ chức, cá nhân.
Người nộp thuế cần lưu ý gì?
Thông tư quy định người nộp thuế sẽ được xếp vào bốn nhóm gồm tuân thủ tốt, tuân thủ trung bình, tuân thủ thấp và không tuân thủ, đồng thời kết hợp với mức độ rủi ro để áp dụng biện pháp quản lý phù hợp.
Theo đó, người nộp thuế tuân thủ tốt và có rủi ro thấp sẽ được áp dụng chế độ ưu tiên trong quản lý thuế theo quy định của pháp luật.
Đối với nhóm tuân thủ trung bình và có rủi ro thấp hoặc trung bình, cơ quan thuế sẽ tập trung vào các chương trình hỗ trợ tuân thủ như tuyên truyền, hướng dẫn, đào tạo nhằm giúp người nộp thuế thực hiện đúng quy định và nâng cao mức độ tuân thủ tự nguyện.
Trong khi đó, người nộp thuế tuân thủ thấp hoặc có rủi ro cao sẽ thuộc diện cảnh báo, theo dõi và giám sát để phòng ngừa các vi phạm có thể phát sinh.

Ảnh minh họa
Trường hợp vừa tuân thủ thấp vừa có rủi ro cao sẽ phải áp dụng các biện pháp quản lý tăng cường như kiểm tra, giám sát, cưỡng chế theo quy định của pháp luật và khi cần thiết sẽ phối hợp với các cơ quan chức năng.
Riêng người nộp thuế không tuân thủ sẽ được đưa vào diện giám sát trọng điểm về thuế.
Theo quy định mới, việc phân nhóm không làm phát sinh thêm nghĩa vụ thuế hay thay đổi số thuế phải nộp. Tuy nhiên, kết quả phân loại sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ ưu tiên hoặc kiểm soát của cơ quan thuế trong quá trình quản lý.
Do đó, doanh nghiệp, hộ kinh doanh và cá nhân cần thực hiện đầy đủ việc đăng ký, kê khai, nộp thuế đúng thời hạn; sử dụng hóa đơn điện tử đúng quy định; hạn chế phát sinh nợ thuế; đồng thời lưu giữ đầy đủ hồ sơ, chứng từ để xây dựng lịch sử tuân thủ tốt. Đây là những yếu tố quan trọng giúp người nộp thuế được xếp vào nhóm rủi ro thấp, được hưởng cơ chế quản lý thuận lợi hơn và giảm tần suất kiểm tra, giám sát của cơ quan thuế.