Biến tướng lễ hội: Sự lệch pha giữa niềm tin và cách tổ chức
Dòng người chen chúc đi Lễ hội đầu năm
Lễ hội là không gian văn hóa cộng đồng. Khi những hành vi lệch chuẩn xuất hiện, yêu cầu đặt ra là giữ gìn tính thiêng và chuẩn mực trong tổ chức và ứng xử.
Những ngày đầu năm, không khí lễ hội rộn ràng khắp nơi. Tại nhiều điểm đến như Chùa Hương, Yên Tử, Bái Đính,... công tác tổ chức, phân luồng, bảo đảm an ninh có những chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, xen giữa những tín hiệu đáng mừng ấy vẫn tồn tại những vấn đề như: chen lấn, xô đẩy, cướp lộc, chèo kéo du khách, thậm chí lợi dụng tâm linh để trục lợi.
Đi lễ vốn để cầu an, cầu may nhưng với không ít người, hành trình ấy còn gắn với mong muốn cầu danh, cầu tài, cầu lợi. Đặc biệt, hoạt động cúng sao giải hạn diễn ra rầm rộ, thu hút hàng nghìn người mỗi dịp đầu năm, khiến nhiều đền chùa rơi vào tình trạng quá tải.
Từ thực tế ấy, câu hỏi đặt ra là vì sao những "biến tướng" như chèo kéo, cướp lộc, chen lấn xô đẩy vẫn tái diễn? Ranh giới nào giữa tín ngưỡng dân gian và hành vi lệch chuẩn trong không gian lễ hội?
Trẩy hội đầu năm để cầu an nhưng nhiều người rơi vào cảnh ám ảnh vì phải chen lấn trong "biển người" tại các điểm du lịch tâm linh
Trao đổi về vấn đề này với PV Báo Phụ nữ Việt Nam, PGS.TS Bùi Hoài Sơn - Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội - cho rằng: "Những biến tướng trong lễ hội đầu năm từ chèo kéo du khách, cướp lộc, chen lấn xô đẩy đến những hành vi bạo lực, phản cảm không phải tự nhiên mà có. Nó là kết quả của một chuỗi nguyên nhân đan xen, trong đó nổi bật nhất là sự lệch pha giữa niềm tin và cách tổ chức. Khi nhu cầu tâm linh của người dân tăng mạnh, trong khi không gian lễ hội, phương án phân luồng, lực lượng điều tiết, quy tắc ứng xử lại không theo kịp, thì đám đông rất dễ trôi theo tâm lý "một năm chỉ có một lần", "không tranh thì mất", "ai nhanh người ấy được". Từ đó, lễ hội vốn là nơi con người tìm sự an yên lại trở thành nơi bộc lộ sự nôn nóng, ích kỷ, và đôi khi cả bản năng.
Nhưng sâu hơn, tôi cho rằng gốc rễ còn nằm ở nhận thức về "lộc" và cách hiểu về "thiêng". Nhiều người đi lễ với tâm thế "mặc cả" với thần linh: dâng lễ để đổi lấy lợi lộc, chen lấn để giành phần hơn, thậm chí coi việc "cướp được lộc" như một bảo chứng cho may mắn cả năm. Khi tín ngưỡng bị kéo khỏi nền tảng đạo đức, khỏi tinh thần hướng thiện, biết ơn, tự răn mình nó rất dễ trượt sang mê tín, sang thực dụng, sang hành vi lệch chuẩn. Vậy nên, ranh giới giữa tín ngưỡng dân gian và hành vi lệch chuẩn không nằm ở chuyện "đông hay vui", "có tranh hay không", mà nằm ở chỗ: tín ngưỡng làm con người tốt hơn hay làm con người xấu đi; tính thiêng nâng con người lên hay kích hoạt lòng tham và bạo lực; hành vi của ta có tôn trọng cộng đồng, tôn trọng không gian thờ tự và quyền an toàn của người khác hay không.
Nói cách khác, tín ngưỡng dân gian là dòng chảy văn hóa bền bỉ của cộng đồng, được nuôi bằng đạo lý "kính trên nhường dưới", bằng tinh thần hòa hiếu, bằng niềm tin vào điều thiện. Còn hành vi lệch chuẩn là khi con người lấy danh nghĩa tâm linh để biện minh cho sự thô bạo; lấy "thiêng" để hợp thức hóa việc chèn ép người khác; lấy "lộc" để khoác áo đẹp cho lòng tham. Lễ hội không sai. Niềm tin không sai. Sai ở chỗ chúng ta đã để cho sự thiếu chuẩn mực và lỏng lẻo quản trị biến không gian văn hóa thành một "đấu trường" của đám đông.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn - Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội
Thực tế cho thấy, thời gian qua, ngành Văn hóa - Du lịch đã có nhiều động thái nhằm chấn chỉnh tình trạng này. Tại Chùa Hương, Hợp tác xã dịch vụ du lịch vừa quyết định đình chỉ chở khách đến hết mùa lễ hội 2026 đối với 2 lái đò vi phạm quy định thu phí và ứng xử thiếu chuẩn mực. Ban Tổ chức lễ hội Du lịch Chùa Hương 2026 đặt mục tiêu "An toàn - Thân thiện - Chất lượng", nhấn mạnh yếu tố nâng cao trải nghiệm du khách và xử lý nghiêm hành vi gây bức xúc.
Tuy nhiên, câu chuyện không dừng lại ở quản lý hành chính. Trước xu hướng thương mại hóa lễ hội để phát triển du lịch, làm sao để vừa giữ được tính thiêng, bản sắc cộng đồng, vừa kiểm soát hoạt động dịch vụ?
PGS.TS Bùi Hoài Sơn thẳng thắn nêu quan điểm: "Thương mại hóa lễ hội, ở một mức độ nhất định, là điều khó tránh khi đời sống phát triển và du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng. Vấn đề không phải là "có dịch vụ hay không", mà là dịch vụ đứng ở đâu trong trật tự giá trị của lễ hội. Nếu dịch vụ chỉ là phần hỗ trợ văn minh giúp người dân đi lại thuận tiện, ăn ở sạch sẽ, thông tin rõ ràng, trải nghiệm tốt thì đó là sự bổ trợ tích cực. Nhưng nếu dịch vụ lấn át phần lễ, biến nghi thức thành "phông nền", biến sự linh thiêng thành "đạo cụ", biến cộng đồng chủ thể thành người làm thuê cho cuộc buôn bán, thì khi ấy lễ hội sẽ mất gốc, mất hồn, và mất luôn sức hấp dẫn dài hạn.
Muốn vừa bảo tồn giá trị truyền thống, tính thiêng, bản sắc cộng đồng, vừa kiểm soát dịch vụ để tránh trục lợi, tôi nghĩ cần làm đồng thời mấy việc nhưng cốt lõi nhất là đưa lễ hội trở lại đúng vị trí: một thiết chế văn hóa của cộng đồng, được quản trị bằng chuẩn mực văn hóa, chứ không phải một "chợ mùa vụ".
Trước hết, phải thiết kế lại mô hình quản trị lễ hội theo hướng rõ trách nhiệm và chuyên nghiệp: phân định rành mạch khu vực tâm linh - nghi lễ với khu vực dịch vụ; công khai quy tắc ứng xử; chuẩn hóa kịch bản tổ chức; có phương án phân luồng, kiểm soát đám đông, bảo đảm an toàn như một tiêu chuẩn bắt buộc chứ không phải việc "tùy năm". Đi lễ đầu năm là nhu cầu chính đáng, nhưng quyền tâm linh không thể đứng cao hơn quyền an toàn và quyền được tôn trọng của cộng đồng.
Thứ hai, phải chuẩn hóa hoạt động dịch vụ: niêm yết giá, quy hoạch điểm bán, cấp phép minh bạch, xử phạt thật nghiêm hành vi chèo kéo, "chặt chém", lợi dụng tâm linh để trục lợi. Ở đây, chế tài chỉ là phần ngọn; phần gốc là tạo ra một môi trường mà người làm dịch vụ hiểu rằng họ đang phục vụ một không gian văn hóa thiêng, nên chính họ cũng phải hành xử có văn hóa. Không thể có một lễ hội văn minh nếu dịch vụ vô trật tự, và cũng không thể có một lễ hội "thiêng" nếu cái thiêng bị phủ kín bởi tiếng mời chào và sự cò mồi.
Thứ ba, quan trọng không kém, là trả lại vai trò chủ thể cho cộng đồng. Lễ hội sống được là nhờ cộng đồng. Bản sắc nằm trong ký ức tập thể, trong người cao niên, trong nghệ nhân, trong những người giữ nghi lễ. Nếu mọi thứ bị "đóng gói" theo logic du lịch thuần túy, cộng đồng sẽ dần đứng ngoài cuộc, và lễ hội sẽ trở thành một sản phẩm trình diễn rỗng. Vì vậy, cần cơ chế để cộng đồng tham gia thực chất vào ban tổ chức, vào giám sát nguồn thu - chi, vào gìn giữ nghi lễ và truyền dạy phong tục.
Cuối cùng, phải làm một việc tưởng mềm nhưng lại quyết định: giáo dục và truyền thông về văn hóa lễ hội. Không thể chỉ trông chờ vào hàng rào và lực lượng chức năng. Cần khơi lại một tinh thần rất căn cốt: đi lễ là để "tu sửa mình", để hướng thiện, để biết đủ, biết nhường, biết kính. Khi người ta hiểu rằng "lộc" không nằm ở việc giành giật, mà nằm ở sự tử tế; "thiêng" không nằm ở đám đông cuồng nhiệt, mà nằm ở sự tĩnh tại và trong sạch của tâm; thì tự khắc những hành vi lệch chuẩn sẽ co lại".
PGS.TS Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh, phát triển du lịch và kinh tế từ lễ hội là có thể, nhưng phải dựa trên một nguyên tắc: kinh tế đi sau văn hóa, dịch vụ đi sau nghi lễ, lợi ích đi sau chuẩn mực. Làm được điều ấy, lễ hội vừa giữ được hồn cốt truyền thống, vừa trở thành một không gian văn minh, an toàn, hấp dẫn - và quan trọng nhất, xứng đáng với niềm tin của người dân.



