Xem thêm thông tin của Báo PNVN trên
Phụ nữ Việt Nam
MỚI NHẤT ĐỘC QUYỀN MULTIMEDIA CHUYÊN ĐỀ

Cha không nhận con, mẹ có thể tự làm giấy khai sinh?

Nguyễn Hải
Cha không nhận con, mẹ có thể tự làm giấy khai sinh?

Ảnh minh họa: AI

Cha mẹ chưa đăng ký kết hôn, người cha bỏ đi và không hợp tác làm giấy tờ cho con. Trong trường hợp này, người mẹ có thể tự đăng ký khai sinh cho trẻ hay không, cần chuẩn bị những giấy tờ gì và làm thế nào để xác định cha cho con?

Bạn đọc L.T.P. (25 tuổi, tỉnh Phú Thọ) cho biết, chị và bạn trai sống chung nhưng chưa đăng ký kết hôn. Sau khi sinh con, người cha bỏ đi, không liên lạc và không hợp tác làm giấy tờ cho con. Dù đã có giấy chứng sinh của bệnh viện, chị vẫn chưa rõ cần chuẩn bị thêm những giấy tờ gì để đăng ký khai sinh. Chị cũng muốn xác định cha cho con để bảo đảm quyền lợi của cháu nhưng lo ngại thủ tục phức tạp, tốn kém. 

Trao đổi về vấn đề này, luật sư Phùng Huyền (Công ty Luật A+) cho biết, pháp luật đã có quy định bảo đảm quyền được khai sinh của trẻ em, kể cả trong trường hợp cha mẹ chưa đăng ký kết hôn hoặc người cha không hợp tác. Người mẹ có thể chủ động thực hiện thủ tục đăng ký khai sinh, sau đó yêu cầu xác định cha cho con theo quy định nếu phát sinh tranh chấp.

Người mẹ có thể tự đăng ký khai sinh

Theo luật sư Phùng Huyền, khoản 1 Điều 30 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: "Cá nhân từ khi sinh ra có quyền được khai sinh.". Đồng thời, Điều 13 Luật Trẻ em 2016 cũng ghi nhận trẻ em có quyền được khai sinh, có họ, tên, quốc tịch và được xác định cha, mẹ, dân tộc, giới tính theo quy định pháp luật.

Đây là những quyền nhân thân cơ bản của trẻ. Vì vậy, việc cha mẹ chưa đăng ký kết hôn hoặc người cha không hợp tác hoàn toàn không làm ảnh hưởng đến quyền được khai sinh của trẻ. Người mẹ vẫn được tự mình đi đăng ký khai sinh cho con mà không cần sự đồng ý hay có mặt của người cha.

Về cơ quan giải quyết, căn cứ điểm d khoản 1 Điều 7 Luật Hộ tịch năm 2014 và khoản 1 Điều 15 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP, thẩm quyền đăng ký khai sinh cho trẻ chưa xác định được cha thuộc về UBND cấp xã nơi trẻ đang cư trú.

Đối với hồ sơ, khoản 1 Điều 16 Luật Hộ tịch năm 2014 quy định người đi đăng ký khai sinh phải nộp tờ khai theo mẫu và giấy chứng sinh. Trường hợp không có giấy chứng sinh thì nộp văn bản của người làm chứng xác nhận về việc sinh; nếu không có người làm chứng thì phải có giấy cam đoan về việc sinh.

Bên cạnh đó, theo khoản 1 Điều 2 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP, người yêu cầu đăng ký hộ tịch cần xuất trình bản chính một trong các giấy tờ tùy thân còn giá trị sử dụng như hộ chiếu, thẻ căn cước công dân, thẻ căn cước, giấy chứng nhận căn cước hoặc giấy tờ khác có dán ảnh và thông tin cá nhân do cơ quan có thẩm quyền cấp. Người mẹ cần chuẩn bị tờ khai đăng ký khai sinh, giấy chứng sinh và giấy tờ tùy thân để thực hiện thủ tục tại cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền.

Một vấn đề được nhiều người quan tâm là khi chưa xác định được cha, thông tin người cha sẽ được ghi nhận thế nào trên giấy khai sinh. Về nội dung này, khoản 2 Điều 15 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định, nếu chưa xác định được cha thì họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của con được xác định theo mẹ; phần ghi về cha trong Sổ hộ tịch và Giấy khai sinh của trẻ để trống. Người mẹ không cần chờ người cha hợp tác hoặc hoàn tất thủ tục xác định cha, con mới có thể đăng ký khai sinh cho trẻ.

Cha không nhận con, mẹ có thể tự làm giấy khai sinh?- Ảnh 1.

Luật sư Phùng Huyền (Công ty Luật A+)

Mẹ có quyền yêu cầu Tòa án xác định cha cho con

Bên cạnh đó, theo luật sư Phùng Huyền, khoản 2 Điều 101 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp có tranh chấp hoặc người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết và trường hợp quy định tại Điều 92 của luật này.

Do đó, khi người cha không thừa nhận con, người mẹ có quyền khởi kiện đến Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết việc xác định cha cho con. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nơi người cha cư trú, làm việc.

Về chứng cứ chứng minh quan hệ cha – con, Điều 14 Thông tư số 04/2020/TT-BTP quy định có thể sử dụng văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan, tổ chức khác có thẩm quyền trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con, mẹ con.

Trường hợp không có chứng cứ theo quy định, các bên nhận cha, mẹ, con có thể lập văn bản cam đoan về mối quan hệ, với ít nhất hai người làm chứng.

Theo luật sư, nếu người cha không chịu hợp tác, không chịu nhận con thì người mẹ có thể khởi kiện đến Tòa án có thẩm quyền, kèm theo chứng cứ chứng minh quan hệ cha con là kết quả giám định ADN huyết thống giữa người cha và đứa trẻ từ tổ chức giám định hoặc cơ sở y tế có thẩm quyền.

Sau khi có bản án của Tòa án xác định cha cho con, thông tin người cha sẽ được cập nhật vào Giấy khai sinh. Cụ thể, khoản 1 Điều 30 Luật Hộ tịch năm 2014 quy định, trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật liên quan đến thay đổi hộ tịch, Tòa án có trách nhiệm thông báo bằng văn bản kèm theo trích lục bản án, bản sao quyết định đến UBND nơi đã đăng ký hộ tịch để ghi vào Sổ hộ tịch.

Đồng thời, khoản 1 Điều 21 Thông tư số 04/2020/TT-BTP quy định cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm ghi nhận nội dung thay đổi khi nhận được thông báo kèm theo trích lục bản án, bản sao quyết định liên quan.

Theo khoản 9 Điều 31 Thông tư số 04/2020/TT-BTP, những thông tin thay đổi theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền được ghi chú ở mặt sau Giấy khai sinh. Như vậy, sau khi có bản án của Tòa án xác định cha cho con, công chức tư pháp - hộ tịch sẽ ghi nội dung thay đổi vào mặt sau bản chính Giấy khai sinh, ký tên và đóng dấu của cơ quan đăng ký hộ tịch.

Ý kiến của bạn
Bình luận