Dấu ấn của cụ Huỳnh Thúc Kháng trong sự kiện thành lập Hội LHPN Việt Nam năm 1946
Nhà lưu niệm chí sĩ yêu nước Huỳnh Thúc Kháng tại xã Thạnh Bình, TP Đà Nẵng. Ảnh: Nguyễn Đông
Trong những ngày đầu của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, việc tập hợp rộng rãi các tầng lớp Nhân dân, trong đó có phụ nữ, trở thành yêu cầu quan trọng của công cuộc xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng. Trên cương vị Hội trưởng Hội Liên Việt và Bộ trưởng Bộ Nội vụ, cụ Huỳnh Thúc Kháng đã để lại dấu ấn trong quá trình vận động, tạo cơ sở pháp lý cho việc thành lập Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, mở thêm không gian để phong trào phụ nữ phát triển và đóng góp vào công cuộc kháng chiến, kiến quốc.
Nhân kỷ niệm 150 năm ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng (1/10/1876 - 1/10/2026), PNVN đã có cuộc trao đổi với Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, Nhà giáo Nhân dân Vũ Minh Giang, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo (Đại học Quốc gia Hà Nội), Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, về vai trò của cụ đối với quá trình thành lập Hội LHPN Việt Nam, cũng như giá trị từ tinh thần trọng dân, đại đoàn kết và phát huy vai trò phụ nữ trong những năm đầu thành lập nước.
NGHỆ THUẬT QUY TỤ CÁC LỰC LƯỢNG YÊU NƯỚC
PV: Ngày 29/5/1946, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam được thành lập và cụ Huỳnh Thúc Kháng giữ cương vị Hội trưởng. Thưa Giáo sư, trong bối cảnh đất nước vừa giành được độc lập, vai trò của cụ Huỳnh Thúc Kháng có ý nghĩa như thế nào trong chủ trương mở rộng khối đại đoàn kết, tập hợp các tầng lớp nhân dân?
GS.TSKH.NGND Vũ Minh Giang: Trong bối cảnh đất nước vừa giành được độc lập, chính quyền cách mạng còn non trẻ, phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, yêu cầu cấp thiết lúc đó không chỉ là xây dựng, bảo vệ chính quyền cách mạng mà còn phải tập hợp được tối đa những lực lượng yêu nước, không phân biệt thành phần xã hội, tôn giáo, giới tính hay xu hướng chính trị, cùng tham gia sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước.
Trong bối cảnh ấy, việc thành lập Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Hội Liên Việt) ngày 29/5/1946 có ý nghĩa rất quan trọng, là một bước nhằm tiếp tục mở rộng khối đoàn kết, thu hút những người yêu nước còn ở ngoài Mặt trận Việt Minh. Cụ Huỳnh Thúc Kháng được bầu làm Hội trưởng, trong khi Chủ tịch Hồ Chí Minh là Hội trưởng danh dự. Điều cần nhấn mạnh là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn thấy uy tín xã hội, nhân cách và quá trình hoạt động yêu nước lâu dài của cụ Huỳnh Thúc Kháng đã tạo cho Hội Liên Việt một khả năng tập hợp rất rộng. Cụ là một chí sĩ yêu nước lão thành, không phải đảng viên cộng sản, nhưng có uy tín lớn trong giới nhân sĩ, trí thức và các tầng lớp yêu nước. Việc cụ đứng đầu Hội cho thấy tư tưởng đại đoàn kết lúc đó không chỉ được thể hiện bằng một khẩu hiệu chính trị, mà được cụ thể hóa bằng việc tạo dựng một không gian chung để những người có nguồn gốc, khuynh hướng và vị trí xã hội khác nhau cùng tham gia công việc của quốc gia. Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này cũng nhấn mạnh Hội Liên hiệp quốc dân đã thực hiện sự đoàn kết rộng rãi các tầng lớp, đảng phái, tôn giáo và dân tộc.
Điểm đặc biệt trong vai trò của cụ Huỳnh Thúc Kháng là ở nghệ thuật quy tụ mọi lực lượng yêu nước, vượt lên trên những khác biệt. Cụ không phải là người đại diện cho một nhóm xã hội, mà bằng uy tín của một nhà yêu nước lão thành, cụ trở thành một biểu tượng của sự quy tụ. Trong hoàn cảnh đất nước mới giành được độc lập, điều quan trọng nhất là tìm được mẫu số chung giữa các lực lượng. Đó là lòng yêu nước, lợi ích dân tộc và khát vọng xây dựng một nước Việt Nam độc lập. Nhìn rộng hơn, sự ra đời và hoạt động của Hội Liên Việt năm 1946 đã đặt thêm một nền tảng quan trọng cho quá trình hình thành Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi. Đến tháng 3/1951, Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt hợp nhất thành Mặt trận Liên Việt, tiếp tục tập hợp sức mạnh của toàn dân trong cuộc kháng chiến.
Khi nhìn lại vai trò của cụ Huỳnh Thúc Kháng, tôi cho rằng giá trị lớn nhất không nằm ở chức danh Hội trưởng, mà ở khả năng biến uy tín cá nhân thành sức mạnh quy tụ cộng đồng, biến những khác biệt về thành phần, giới, tôn giáo và khuynh hướng xã hội thành nguồn lực bổ sung cho nhau. Đó cũng là một bài học lịch sử có ý nghĩa lâu dài là đại đoàn kết muốn bền vững phải thực sự tôn trọng sự đa dạng, phải tạo điều kiện để mọi lực lượng yêu nước, trong đó có phụ nữ, đều được tham gia và đóng góp vào công việc chung của đất nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng (hàng trước, thứ nhất từ phải sang) trong Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ảnh tư liệu
PV: Việc vận động thành lập Hội LHPN Việt Nam được đặt ra nhằm đoàn kết, thống nhất rộng rãi hơn các tầng lớp phụ nữ và Hội sau đó trở thành một thành viên quan trọng của Mặt trận. Trên cương vị Hội trưởng Hội Liên Việt, vai trò của cụ Huỳnh Thúc Kháng trong tiến trình này được nhìn nhận như thế nào, thưa Giáo sư?
GS.TSKH.NGND Vũ Minh Giang: Khi nhìn nhận vai trò của cụ Huỳnh Thúc Kháng trong tiến trình mở rộng khối đại đoàn kết và tập hợp lực lượng phụ nữ, cần phải hiểu sâu sắc tư tưởng đại đoàn kết trong những năm đầu xây dựng chính quyền cách mạng là làm sao quy tụ được đông đảo các tầng lớp Nhân dân, để mỗi giới, mỗi tầng lớp xã hội đều có tổ chức và có điều kiện tham gia vào công cuộc kháng chiến, kiến quốc. Trong quá trình đó, việc hình thành một tổ chức phụ nữ có phạm vi tập hợp rộng rãi có ý nghĩa đặc biệt. Hội LHPN Việt Nam không chỉ là tổ chức đại diện cho phụ nữ, mà còn là một kênh quan trọng để đưa lực lượng phụ nữ tham gia ngày càng sâu rộng vào đời sống xã hội và sự nghiệp chung của dân tộc. Việc Hội trở thành một thành viên của Mặt trận thể hiện rõ quan điểm: Đại đoàn kết dân tộc muốn thực chất thì phải bao hàm sự đoàn kết của phụ nữ và phát huy đầy đủ năng lực, vai trò của phụ nữ.
Với cương vị Hội trưởng Hội Liên Việt, dấu ấn của cụ Huỳnh Thúc Kháng trước hết được nhìn nhận ở vai trò quy tụ và tạo sự đồng thuận giữa các lực lượng xã hội. Cụ là một nhân sĩ yêu nước có uy tín lớn, có khả năng kết nối nhiều tầng lớp khác nhau. Vì vậy, sự hiện diện và vai trò của cụ góp phần tạo nên một môi trường chính trị - xã hội, trong đó các tổ chức quần chúng, có tổ chức phụ nữ, được tập hợp trong một mặt trận chung, vì lợi ích dân tộc.
Ý nghĩa lớn hơn của vấn đề nằm ở chỗ, từ một lực lượng tham gia cách mạng, phụ nữ từng bước trở thành một chủ thể có tổ chức trong khối đại đoàn kết dân tộc. Đó là một bước phát triển quan trọng của đời sống chính trị - xã hội dưới chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và cũng cho thấy giá trị lâu dài của tư tưởng đoàn kết rộng rãi mà cụ Huỳnh Thúc Kháng là một trong những biểu tượng.
MỞ KHÔNG GIAN PHÁT TRIỂN MỚI CHO PHONG TRÀO PHỤ NỮ
PV: Ngày 3/10/1946, trên cương vị Bộ trưởng Bộ Nội vụ, cụ Huỳnh Thúc Kháng đã ký Nghị định cho phép thành lập Hội LHPN Việt Nam. Nếu đặt quyết định này trong tổng thể hoạt động của cụ tại Hội Liên Việt và trong bối cảnh lúc bấy giờ, Giáo sư đánh giá như thế nào về ý nghĩa lịch sử và vai trò của cụ đối với sự ra đời của Hội?
GS.TSKH.NGND Vũ Minh Giang: Nghị định ngày 3/10/1946 do Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng ký cho phép thành lập Hội LHPN Việt Nam cần được nhìn nhận trong bối cảnh rộng hơn của quá trình xây dựng chính quyền cách mạng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc sau Cách mạng Tháng Tám. Đây không đơn thuần là một quyết định về mặt tổ chức, mà có ý nghĩa chính trị - xã hội quan trọng. Nó tạo cơ sở pháp lý để tập hợp rộng rãi các tầng lớp phụ nữ vào một tổ chức chung, trong đó Đoàn Phụ nữ Cứu quốc là lực lượng nòng cốt. Ngày 20/10/1946, Hội LHPN Việt Nam làm lễ ra mắt tại Quảng trường Nhà hát Lớn Hà Nội.
Điều đáng chú ý là quyết định này được thực hiện khi cụ Huỳnh Thúc Kháng đồng thời giữ cương vị Hội trưởng Hội Liên Việt và Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Có thể thấy khá rõ sự thống nhất giữa vai trò của cụ trong công tác Mặt trận và trong bộ máy chính quyền. Về phương diện xã hội, đó là mở rộng sự đoàn kết. Mặt khác, quyết định này là cơ sở pháp lý để các tổ chức quần chúng có điều kiện hoạt động công khai. Việc hình thành Hội là kết quả của một quá trình vận động, chuẩn bị và tổ chức của phong trào phụ nữ.
Từ góc nhìn lịch sử, tôi cho rằng, dấu ấn của cụ Huỳnh Thúc Kháng nằm ở chính tinh thần trọng dân, trọng sự tham gia của các tầng lớp xã hội và đề cao sức mạnh đoàn kết. Hội LHPN Việt Nam ra đời đã mở rộng thêm không gian tổ chức để phụ nữ thuộc nhiều thành phần có thể cùng tham gia vào công cuộc bảo vệ nền độc lập và xây dựng đất nước. Đó là một bước phát triển quan trọng của khối đại đoàn kết dân tộc trong những năm đầu của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đồng thời đặt nền tảng để phong trào phụ nữ tiếp tục phát triển và tham gia ngày càng sâu rộng vào đời sống quốc gia.

Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, Nhà giáo Nhân dân Vũ Minh Giang, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo (Đại học Quốc gia Hà Nội), Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam
PV: Theo Giáo sư, những giá trị nào trong tư tưởng của cụ Huỳnh Thúc Kháng vẫn còn ý nghĩa đến ngày nay?
GS.TSKH.NGND Vũ Minh Giang: Giá trị có ý nghĩa lâu dài trong tư tưởng của cụ Huỳnh Thúc Kháng trước hết là tinh thần trọng dân, tôn trọng quyền tham gia của Nhân dân và biết quy tụ những nguồn lực khác nhau vì lợi ích chung của đất nước. Trong tinh thần ấy, phụ nữ không chỉ là đối tượng được chăm lo, mà là một lực lượng xã hội quan trọng cần được tạo điều kiện để tham gia và cống hiến.
Đối với công tác phụ nữ hiện nay, bài học đó vẫn còn nguyên giá trị. Đó là muốn phát huy sức mạnh của phụ nữ phải tôn trọng tiếng nói, năng lực, quyền lựa chọn và sự đóng góp của phụ nữ; đồng thời tạo ra những cơ chế để phụ nữ tham gia thực chất vào các lĩnh vực của đời sống xã hội. Từ dấu ấn của cụ trong việc tạo cơ sở pháp lý cho việc thành lập Hội LHPN Việt Nam năm 1946, có thể thấy một nguyên tắc quan trọng: Khi một lực lượng xã hội được tập hợp bằng một tổ chức rộng rãi và được tạo điều kiện phát triển, sức mạnh của lực lượng ấy sẽ được phát huy ở tầm rộng lớn hơn.
Nhân kỷ niệm 150 năm ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng và 96 năm thành lập Hội LHPN Việt Nam, tôi cho rằng điều cần tiếp tục kế thừa chính là tinh thần đoàn kết, trọng dân và phát huy đầy đủ vai trò của phụ nữ, để phụ nữ Việt Nam tiếp tục đóng góp ngày càng hiệu quả vào sự phát triển của đất nước trong thời kỳ mới.
PV: Xin chân thành cảm ơn Giáo sư!
2 DẤU MỐC 1930 VÀ 1946 ĐỐI VỚI HỘI LHPN VIỆT NAM
Từ ngày 14-31/10/1930, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ nhất, Hội nghị đã thông qua Nghị quyết về Phụ nữ vận động, trong đó đề ra nhiệm vụ phải tổ chức ra các đoàn thể phụ nữ như "phụ nữ hiệp hội". Đồng thời Trung ương Đảng đã đề ra Điều lệ Phụ nữ Liên hiệp Hội. Với tính chất quan trọng như vậy, Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ nhất tháng 10/1930 đã đánh dấu quá trình hình thành tổ chức Hội đầu tiên của phong trào phụ nữ dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Sau thành công của Cách mạng tháng Tám, với sự ra đời của Liên đoàn phụ nữ dân chủ quốc tế, trước yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng mới, Đảng đã quyết định thành lập tổ chức Hội lấy tên là Hội LHPN Việt Nam với nòng cốt là Đoàn phụ nữ Cứu quốc, tập hợp đông đảo các tầng lớp phụ nữ trên mọi mặt lĩnh vực. Ngày 3/10/1946, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng đã ký Nghị định cho phép thành lập Hội LHPN Việt Nam. Ngày 20/10/1946, Hội LHPN Việt Nam làm lễ ra mắt tại Quảng trường Nhà hát Lớn, Hà Nội.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV(1974) đã quyết định lấy ngày 20/10/1930 là ngày thành lập Hội LHPN Việt Nam. Tại thông báo số 382-TB/TW ngày 15/10/2010 của Ban chấp hành TƯ Đảng, Ban Bí thư đồng ý lấy ngày 20/10 hàng năm là ngày Phụ nữ Việt Nam.