Dịch vụ sức khỏe sinh sản dành cho người trẻ cần bảo đảm quyền riêng tư và quyền tự quyết
Người trẻ cần được tiếp cận thông tin và dịch vụ kế hoạch hóa gia đình phù hợp, an toàn
Với vị thành niên và thanh niên, đặc biệt là nhóm chưa kết hôn, tiếp cận thông tin và dịch vụ kế hoạch hóa gia đình vẫn còn nhiều khoảng trống. Không chỉ liên quan đến việc sử dụng biện pháp tránh thai, vấn đề còn nằm ở khả năng tiếp cận kiến thức, tìm kiếm tư vấn và sử dụng dịch vụ phù hợp, bảo đảm riêng tư.
Tại Hội thảo phổ biến Đề án Chăm sóc sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục giai đoạn 2026–2030, TS.BS Trần An Chung, Trưởng phòng Chăm sóc sức khỏe sinh sản, Cục Bà mẹ và Trẻ em, cho biết tuổi quan hệ tình dục lần đầu trung bình của người trẻ là 18,7 tuổi vào năm 2024, nhưng chỉ 54% sử dụng biện pháp tránh thai ngay lần đầu.
Năm 2025, vị thành niên mang thai chiếm 2,5% tổng số thai phụ; tỷ suất sinh đạt 32,27‰ và tỷ lệ phá thai là 1,43%. Những số liệu này cho thấy việc trang bị kiến thức và hỗ trợ phòng ngừa thai ngoài ý muốn cần được thực hiện sớm hơn.
Theo TS Dương Văn Đạt, đại diện UNFPA tại Việt Nam, tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai ở các cặp vợ chồng đã kết hôn khoảng 72%, trong khi ở nhóm chưa kết hôn chỉ khoảng 49%. Số liệu năm 2023 cũng cho thấy nhu cầu kế hoạch hóa gia đình chưa được đáp ứng ở nhóm chưa kết hôn vượt 40%.
Những con số trên cho thấy một bộ phận người trẻ có nhu cầu tránh thai nhưng chưa tiếp cận đầy đủ với thông tin, phương tiện và dịch vụ phù hợp.
Theo TS Trần An Chung, trường học là một trong những môi trường quan trọng để cung cấp kiến thức về sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục, giúp học sinh hình thành kỹ năng tự bảo vệ và biết tìm kiếm sự hỗ trợ khi cần.
Tại một số địa phương, các trường học đã triển khai phòng thân thiện dành cho trẻ em, vị thành niên, nơi học sinh có thể trao đổi với giáo viên và nhân viên y tế về tình bạn, tình yêu, quan hệ tình dục, sức khỏe sinh sản và cách phòng tránh những nguy cơ đối với sức khỏe. Một số Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh cũng phối hợp với nhà trường tổ chức truyền thông, tư vấn cho học sinh trong giờ học hoặc hoạt động ngoại khóa.

TS.BS Trần An Chung, Trưởng phòng Chăm sóc sức khỏe sinh sản, Cục Bà mẹ và Trẻ em
“Giáo dục về sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục trong trường học là một trong những môi trường quan trọng nhất để có thể thay đổi hành vi, đồng thời cung cấp cho các em những kiến thức cần thiết để tự bảo vệ sức khỏe của mình”, TS Trần An Chung chia sẻ.
Cha mẹ cũng cần được trang bị kiến thức để có thể trao đổi với con về sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục phù hợp với lứa tuổi. Khi phụ huynh thiếu kiến thức, việc trao đổi dễ rơi vào tình trạng né tránh hoặc cung cấp thông tin chưa đầy đủ.
Bên cạnh đó, mạng xã hội có thể trở thành một kênh bổ sung kiến thức nếu có những nguồn thông tin chính xác, dễ hiểu và phù hợp với từng độ tuổi. Theo TS Trần An Chung, trẻ em và vị thành niên hiện tiếp cận điện thoại thông minh, internet và mạng xã hội từ rất sớm. Việc đưa kiến thức khoa học đến những nền tảng này có thể giúp các em hạn chế tự tìm hiểu từ những nguồn thiếu kiểm chứng.
Dù được trang bị kiến thức, người trẻ vẫn có thể gặp khó khăn khi tìm đến dịch vụ. Tâm lý e ngại, sợ bị đánh giá hoặc lo ngại về quyền riêng tư có thể khiến thanh niên chưa kết hôn trì hoãn việc tư vấn hoặc sử dụng biện pháp tránh thai.
Theo TS Dương Văn Đạt, dịch vụ dành cho người trẻ cần bảo đảm quyền riêng tư và quyền tự quyết, đồng thời cung cấp thông tin đầy đủ để họ có thể chủ động đưa ra quyết định liên quan đến sức khỏe sinh sản.
Đề án Chăm sóc sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục cho vị thành niên và thanh niên giai đoạn 2026–2030 đặt ra yêu cầu mở rộng các mô hình dịch vụ thân thiện, kết nối y tế học đường với y tế cơ sở, đồng thời tăng cường tư vấn tại khu công nghiệp và những nơi tập trung đông thanh niên.
Điều này cũng đòi hỏi dịch vụ không chỉ chờ người trẻ tìm đến bệnh viện hay trạm y tế mà cần được đưa đến những nơi họ đang học tập, làm việc và sinh hoạt. Các kênh tư vấn trực tuyến, thông tin bảo mật cũng có thể giúp người trẻ đặt câu hỏi và tìm kiếm hỗ trợ dễ dàng hơn, nhất là với những vấn đề khó nói trực tiếp.
Dù vậy, công nghệ không thể thay thế dịch vụ y tế, bởi theo TS Trần An Chung, thông tin trên mạng cần đi cùng những địa chỉ tư vấn, khám và cung cấp biện pháp tránh thai đáng tin cậy để người trẻ biết tìm đến đâu khi cần hỗ trợ.
Thu hẹp khoảng trống kế hoạch hóa gia đình ở vị thành niên và thanh niên vì vậy cần bắt đầu từ việc cung cấp kiến thức sớm, đồng thời xây dựng các dịch vụ phù hợp với nhu cầu và tâm lý của người trẻ, trong đó nhà trường, gia đình và ngành y tế cùng tham gia để tạo điều kiện cho các em chủ động bảo vệ sức khỏe sinh sản và đưa ra những quyết định an toàn hơn.