Diễn đàn tháng 7: Cần hệ thống chính sách đồng bộ để khuyến khích người trẻ sinh đủ 2 con
Ảnh minh họa
Mức sinh của Việt Nam đang giảm dưới mức thay thế, đặt ra nguy cơ già hóa dân số và thiếu hụt nguồn nhân lực trong tương lai. Theo Cục Dân số, Bộ Y tế, để khuyến khích các cặp vợ chồng sinh 2 con, cần một hệ thống chính sách đồng bộ, giảm gánh nặng về kinh tế, việc làm và chăm sóc con cái.
Trong nhiều năm, Việt Nam duy trì mức sinh thay thế và tận dụng hiệu quả thời kỳ dân số vàng để phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, những năm gần đây, mức sinh liên tục giảm và đã xuống dưới mức sinh thay thế, đặc biệt tại các đô thị lớn và địa phương có tốc độ phát triển kinh tế cao. Xu hướng kết hôn muộn, sinh ít con hoặc không sinh con đang đặt ra nguy cơ thiếu hụt nguồn nhân lực, đẩy nhanh già hóa dân số và tạo áp lực lớn lên hệ thống an sinh xã hội trong tương lai.
Trước thực trạng này, Đảng, Nhà nước và Bộ Y tế đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm duy trì mức sinh thay thế, khuyến khích các cặp vợ chồng sinh đủ 2 con. Bà Đặng Quỳnh Thư, Phó Cục trưởng Cục Dân số, Bộ Y tế., đã có cuộc trao đổi với PV Báo Phụ nữ Việt Nam xung quanh những nguyên nhân khiến người trẻ ngại sinh con, các chính sách đang được xây dựng cũng như bài học kinh nghiệm từ các quốc gia trên thế giới:
- Hiện nay nhiều địa phương đang ghi nhận mức sinh thấp. Theo bà, đâu là những nguyên nhân chính khiến các cặp vợ chồng ngại sinh đủ 2 con?
Trong những năm gần đây, mức sinh của Việt Nam đã giảm xuống dưới mức sinh thay thế. Đặc biệt, nhiều tỉnh, thành phố có mức độ đô thị hóa và phát triển kinh tế cao đã duy trì mức sinh rất thấp trong nhiều năm.
Qua số liệu thống kê có thể thấy, mức sinh giảm đi cùng với xu hướng kết hôn muộn, sinh con muộn, sinh ít con hoặc không sinh con. Đây là xu hướng phổ biến ở nhiều xã hội hiện đại.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này. Thứ nhất, điều kiện sống được cải thiện, trình độ học vấn ngày càng nâng cao khiến người trẻ, nhất là phụ nữ, ưu tiên phát triển sự nghiệp, tìm kiếm thu nhập tốt hơn và trải nghiệm bản thân trước khi lập gia đình hoặc sinh con.
Thứ hai là sức ép kinh tế đối với các gia đình trẻ. Chi phí sinh hoạt, nhà ở, nuôi dưỡng và giáo dục con cái ngày càng cao khiến nhiều cặp vợ chồng phải cân nhắc rất kỹ trước khi quyết định sinh con hoặc sinh thêm con.
Bên cạnh đó, các chính sách hỗ trợ gia đình có con nhỏ, đặc biệt tại các khu vực đô thị, khu công nghiệp tuy đã được quan tâm nhưng vẫn chưa thật sự đầy đủ. Ngoài ra, tỷ lệ vô sinh, nhất là vô sinh thứ phát, cùng với tình trạng phá thai cũng ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh con của nhiều cặp vợ chồng.
Điều đáng lưu ý là phần lớn các cặp vợ chồng Việt Nam vẫn mong muốn có 2 con. Tuy nhiên, khoảng cách giữa mong muốn và khả năng thực hiện đang ngày càng lớn do những rào cản về kinh tế, việc làm, điều kiện chăm sóc con và áp lực cuộc sống.
- Vì sao Việt Nam lại chuyển từ chính sách kế hoạch hóa gia đình sang định hướng duy trì mức sinh thay thế và khuyến khích mỗi gia đình sinh đủ 2 con?
Mức sinh vừa phản ánh, vừa tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Chính vì vậy, trước những thay đổi của bối cảnh dân số, Đảng và Nhà nước đã điều chỉnh chính sách dân số để phù hợp với giai đoạn phát triển mới.
Trước năm 2006, chính sách kế hoạch hóa gia đình đã góp phần rất quan trọng trong việc kiểm soát tốc độ gia tăng dân số, tạo điều kiện để Việt Nam bước vào thời kỳ dân số vàng từ năm 2007 và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Tuy nhiên, hiện nay chúng ta đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Mức sinh giảm nhanh tại các đô thị và vùng kinh tế phát triển; xu hướng kết hôn muộn, sinh ít con ngày càng rõ rệt. Nếu tình trạng này kéo dài, Việt Nam sẽ phải đối mặt với nguy cơ thiếu hụt nguồn nhân lực, già hóa dân số nhanh và áp lực rất lớn đối với hệ thống an sinh xã hội.
Đó là lý do Trung ương đã ban hành Nghị quyết 21-NQ/TW, Kết luận 149-KL/TW và Nghị quyết 72-NQ/TW, xác định chuyển trọng tâm từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển, đồng thời khuyến khích các cặp vợ chồng sinh đủ hai con để duy trì mức sinh thay thế bền vững.

Bà Đặng Quỳnh Thư, Phó Cục trưởng Cục Dân số, Bộ Y tế.
- Bộ Y tế đang đề xuất hoặc triển khai những chính sách gì để giảm gánh nặng cho các gia đình, qua đó tạo điều kiện để người dân yên tâm sinh đủ 2 con?
Luật Dân số đã quy định nhiều chính sách cụ thể nhằm khuyến khích và hỗ trợ các cặp vợ chồng sinh con, nuôi con.
Trong đó có chế độ thai sản khi sinh con thứ hai; hỗ trợ tài chính đối với phụ nữ sinh đủ 2 con trước 35 tuổi tại các địa phương có mức sinh thấp; hỗ trợ phụ nữ dân tộc thiểu số rất ít người; ưu tiên mua hoặc thuê nhà ở xã hội đối với gia đình có từ hai con trở lên theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh đó, Luật cũng quy định căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội từng thời kỳ để xây dựng các chính sách về lao động, việc làm, tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, nhà ở và nhiều chính sách khác nhằm giảm gánh nặng cho các gia đình.
Quan điểm của chúng tôi là xu hướng sinh ít con không xuất phát từ một nguyên nhân đơn lẻ mà chịu tác động của nhiều yếu tố. Vì vậy, cần có hệ thống giải pháp đồng bộ, lấy người dân và gia đình làm trung tâm.
- Theo bà, ngoài hỗ trợ tài chính, đâu là những chính sách người dân đang cần nhất để yên tâm sinh con?
Qua tổng hợp kinh nghiệm quốc tế cũng như thực tiễn ở Việt Nam, chúng tôi nhận thấy quyết định sinh con không chỉ phụ thuộc vào tiền hỗ trợ. Người dân cần trước hết là hệ thống dịch vụ chăm sóc trẻ em chất lượng, thuận tiện và chi phí phù hợp. Việc mở rộng mạng lưới nhà trẻ, trường mầm non, cơ sở giữ trẻ ngoài giờ sẽ giúp cha mẹ, đặc biệt là phụ nữ, yên tâm quay trở lại làm việc sau sinh.
Thứ hai là môi trường lao động thân thiện với gia đình. Người lao động cần được bảo đảm đầy đủ các chế độ thai sản, không bị phân biệt đối xử khi mang thai hoặc sinh con, đồng thời có điều kiện làm việc linh hoạt trong thời gian nuôi con nhỏ.
Ngoài ra, cần tiếp tục giảm gánh nặng chi phí nuôi dạy con thông qua các chính sách về giáo dục, y tế, nhà ở và các dịch vụ công thân thiện với gia đình.
Đồng thời, cần xây dựng môi trường xã hội khuyến khích bình đẳng giới, chia sẻ trách nhiệm chăm sóc con giữa vợ và chồng để giảm áp lực cho phụ nữ.

Quyết định sinh con phụ thuộc vào nhiều yếu tố như hệ thống môi trường, chăm sóc sức khỏe chất lượng và các chính sách về giáo dục, y tế, nhà ở. Ảnh minh họa
- Nhiều phụ nữ lo ngại việc sinh con sẽ ảnh hưởng đến cơ hội nghề nghiệp và thu nhập, Bộ Y tế có kiến nghị gì nhằm bảo đảm quyền lợi của phụ nữ?
Đây là tâm lý rất phổ biến hiện nay, nhất là ở khu vực đô thị và khu vực ngoài nhà nước. Hiện hệ thống pháp luật đã có nhiều quy định bảo vệ lao động nữ thông qua Bộ luật Lao động, Luật Bình đẳng giới và các văn bản hướng dẫn thi hành. Đồng thời, Nhà nước cũng có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ để hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp và người lao động.
Tuy nhiên, bên cạnh chính sách của Nhà nước, chúng tôi cũng mong muốn cộng đồng doanh nghiệp tiếp tục đồng hành trong việc xây dựng môi trường làm việc thân thiện với gia đình, bảo đảm việc làm và quyền lợi hợp pháp của lao động nữ mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ.
Đó không chỉ là quyền lợi của người lao động mà còn giúp doanh nghiệp giữ chân nguồn nhân lực, nâng cao năng suất và phát triển bền vững.
Sinh con và nuôi con là quyết định của mỗi gia đình nhưng chịu tác động rất lớn từ môi trường xã hội. Doanh nghiệp cần xây dựng môi trường làm việc thân thiện với gia đình có con nhỏ, bảo đảm việc làm và các quyền lợi của lao động nữ.
Các tổ chức đoàn thể cần tiếp tục truyền thông về xây dựng gia đình hạnh phúc, bình đẳng, chia sẻ trách nhiệm giữa vợ và chồng trong chăm sóc, nuôi dạy con. Còn trong mỗi gia đình, sự chia sẻ của người chồng, ông bà và người thân sẽ giúp giảm áp lực cho các cặp vợ chồng trẻ, tạo điều kiện để họ thực hiện mong muốn sinh đủ 2 con.
- Từ kinh nghiệm quốc tế, Việt Nam cần rút ra bài học gì để ứng phó với tình trạng mức sinh thấp?
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, chưa có quốc gia nào thực sự đưa được mức sinh rất thấp trở lại mức sinh thay thế trong thời gian dài, mặc dù đã đầu tư nguồn lực rất lớn. Bài học quan trọng nhất là phải hành động sớm. Không có giải pháp đơn lẻ nào có thể đảo ngược xu hướng mức sinh thấp.
Việt Nam cần triển khai đồng bộ các chính sách về dân số, kinh tế, lao động, an sinh xã hội, giáo dục và gia đình để tạo môi trường thuận lợi cho người dân kết hôn, sinh con và nuôi dạy con.
Nếu mức sinh tiếp tục giảm, đến năm 2036 Việt Nam sẽ kết thúc thời kỳ dân số vàng; năm 2044 lực lượng lao động bắt đầu suy giảm; năm 2051 dân số có thể tăng trưởng âm.
- Xin trân trọng cảm ơn bà!