Doanh nghiệp ngừng hoạt động trên 10 năm có thể được xem xét chấm dứt hiệu lực mã số thuế
Bộ Tài chính đề xuất xem xét chấm dứt hiệu lực mã số thuế đối với người nộp thuế đã ngừng hoạt động từ đủ 10 năm. Ảnh minh họa
Bộ Tài chính đề xuất xem xét chấm dứt hiệu lực mã số thuế đối với người nộp thuế đã ngừng hoạt động từ đủ 10 năm, không có nợ thuế và không thuộc diện thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử.
Hơn 172.000 doanh nghiệp, tổ chức không có nợ thuế thuộc diện rà soát
Theo đề xuất của Bộ Tài chính tại dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về chính sách đặc thù xử lý nợ thuế, người nộp thuế đã ngừng hoạt động kinh doanh nhưng chưa hoàn tất thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế, hoặc đã được cơ quan thuế xác định không hoạt động tại địa chỉ đăng ký từ đủ 10 năm trở lên tính đến ngày Nghị quyết có hiệu lực, có thể được xem xét chấm dứt hiệu lực mã số thuế nếu không có nợ thuế và không thuộc trường hợp đang bị thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử.
Đề xuất này đáng chú ý với các doanh nghiệp, tổ chức và hộ kinh doanh đã ngừng hoạt động trong thời gian dài nhưng chưa hoàn tất thủ tục thuế, thủ tục chấm dứt hoạt động theo quy định.
Theo số liệu Bộ Tài chính, tính đến ngày 23/10/2026, cả nước có 2.518.440 người nộp thuế ở trạng thái 03 và 06. Trong đó, trạng thái 03 có 643.383 trường hợp, gồm 211.802 doanh nghiệp, tổ chức (bao gồm cả chi nhánh) và 431.581 hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh. Trạng thái 06 có 1.875.057 trường hợp, gồm 861.010 doanh nghiệp, tổ chức (bao gồm cả chi nhánh) và 1.014.047 hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.

Đáng chú ý, hơn 753.000 người nộp thuế ở hai trạng thái này đã kéo dài trên 10 năm, được Bộ Tài chính thống kê chiếm 25% tổng số người nộp thuế ở trạng thái 03 và 06. Nhóm này gồm 287.000 doanh nghiệp, tổ chức và 466.000 hộ, cá nhân kinh doanh. Trong đó, có 172.147 doanh nghiệp, tổ chức không có nợ thuế.
Theo Bộ Tài chính, tình trạng người nộp thuế ngừng hoạt động trong thời gian dài nhưng chưa hoàn tất thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế gây tồn đọng, làm giảm độ chính xác của cơ sở dữ liệu quản lý thuế. Vì vậy, cần có cơ chế rà soát, xử lý các trường hợp đủ điều kiện, đồng thời bảo đảm không làm ảnh hưởng đến những nghĩa vụ thuế đã phát sinh.
Công khai thông tin 30 ngày trước khi chấm dứt mã số thuế
Theo phương án được đề xuất, trước khi chấm dứt hiệu lực mã số thuế, cơ quan thuế phải công khai thông tin người nộp thuế dự kiến được xử lý trên trang thông tin điện tử của cơ quan quản lý thuế trong thời hạn 30 ngày.
Nếu hết thời hạn công khai mà người nộp thuế không có văn bản đề nghị khôi phục mã số thuế, đồng thời cơ quan thuế không nhận được ý kiến phản đối bằng văn bản của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, cơ quan thuế sẽ thực hiện chấm dứt hiệu lực mã số thuế trên hệ thống thông tin quản lý thuế.
Sau đó, thông tin tiếp tục được công khai và chuyển đến cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, hợp tác xã và các quy định liên quan.
Như vậy, việc chấm dứt hiệu lực mã số thuế theo đề xuất không được thực hiện ngay khi xác định doanh nghiệp đã ngừng hoạt động lâu năm. Quy trình còn có bước công khai thông tin để người nộp thuế và các bên liên quan có cơ hội phản hồi.

Đối với doanh nghiệp đã ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất thủ tục pháp lý, việc rà soát tình trạng mã số thuế, nghĩa vụ thuế và hồ sơ liên quan vẫn rất cần thiết. Doanh nghiệp không nên mặc nhiên cho rằng việc đã ngừng kinh doanh hoặc không phát sinh doanh thu trong thời gian dài đồng nghĩa với việc được chấm dứt hiệu lực mã số thuế.
Bộ Tài chính cho biết, đề xuất được xây dựng trong bối cảnh pháp luật đã có quy định liên quan đến xử lý tiền thuế nợ, xác định nghĩa vụ thuế và thời hạn lưu trữ tài liệu kế toán. Theo Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15, một số khoản tiền thuế nợ quá 10 năm, không có khả năng thu hồi và đáp ứng điều kiện luật định có thể được xem xét xóa nợ. Trong khi đó, Luật Kế toán số 88/2015/QH13 quy định thời hạn lưu trữ đối với từng loại tài liệu kế toán.
Tuy nhiên, việc xử lý mã số thuế tồn đọng chỉ được xem xét đối với các trường hợp đáp ứng đầy đủ điều kiện theo đề xuất. Các trường hợp còn nợ thuế hoặc đang thuộc diện thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử không nằm trong nhóm được đề xuất áp dụng cơ chế này.
Đề xuất bảo vệ người bị giả mạo thông tin thành lập doanh nghiệp
Một nội dung đáng chú ý khác tại dự thảo là phương án xử lý đối với cá nhân bị sử dụng trái phép thông tin để đăng ký thành lập doanh nghiệp, hộ kinh doanh, hợp tác xã hoặc liên hiệp hợp tác xã. Việc này có thể khiến cá nhân bị xác định là người kinh doanh, chủ hộ kinh doanh, chủ sở hữu hưởng lợi hoặc người đại diện theo pháp luật của đơn vị không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký.
Theo đề xuất, cá nhân phải có văn bản đề nghị cơ quan đăng ký kinh doanh hoặc cơ quan thuế, tùy trường hợp, phối hợp xử lý việc bị giả mạo thông tin. Đồng thời, cơ quan công an phải có văn bản xác nhận đã tiếp nhận phản ánh và đang trong quá trình giải quyết, gửi đến cơ quan đăng ký kinh doanh hoặc cơ quan thuế quản lý trực tiếp người nộp thuế.
Khi đáp ứng các điều kiện này, cơ quan thuế tạm thời chưa áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với cá nhân theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 28 Nghị định 252/2026/NĐ-CP của Chính phủ.
Bộ Tài chính cho biết, trong quá trình triển khai Chiến dịch "Làm sạch mã số thuế - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh", cơ quan thuế đã tiếp nhận 614 phản ánh của người dân về việc thông tin cá nhân bị sử dụng trái phép để đăng ký thành lập doanh nghiệp, hộ kinh doanh.
Tuy nhiên, việc cá nhân gửi phản ánh chưa đủ cơ sở pháp lý để cơ quan thuế xác định người phản ánh thực sự bị giả mạo thông tin, từ đó xử lý hoặc gỡ bỏ ngay biện pháp cưỡng chế tạm hoãn xuất cảnh.
Vì vậy, Bộ Tài chính đề xuất quy định rõ điều kiện áp dụng: cá nhân phải có văn bản đề nghị cơ quan đăng ký kinh doanh hoặc cơ quan thuế phối hợp xử lý việc bị giả mạo thông tin; đồng thời, cơ quan công an đã có văn bản xác nhận tiếp nhận phản ánh và đang trong quá trình giải quyết, gửi đến cơ quan đăng ký kinh doanh hoặc cơ quan thuế quản lý trực tiếp người nộp thuế. Khi đáp ứng các điều kiện này, cơ quan thuế tạm thời chưa áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với cá nhân theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 28 Nghị định 252/2026/NĐ-CP của Chính phủ.
Đề xuất nhằm tạo cơ sở xử lý những trường hợp bị lợi dụng thông tin cá nhân để đăng ký kinh doanh trái phép, hạn chế nguy cơ người không thực sự thực hiện hoạt động kinh doanh phải chịu các biện pháp cưỡng chế do nghĩa vụ thuế phát sinh từ doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh đứng tên mình.