Xem thêm thông tin của Báo PNVN trên
Phụ nữ Việt Nam
MỚI NHẤT ĐỘC QUYỀN MULTIMEDIA CHUYÊN ĐỀ
07/05/2026 - 16:02 (GMT+7)

Gỡ "nút thắt" chênh lệch môn thi tốt nghiệp THPT: STEM lép vế, môn xã hội áp đảo

Hà Phương
Gỡ "nút thắt" chênh lệch môn thi tốt nghiệp THPT: STEM lép vế, môn xã hội áp đảo

Ảnh minh họa: AI

Trong bối cảnh AI và chuyển đổi số bùng nổ, các ngành STEM được kỳ vọng trở thành động lực phát triển kinh tế, nhưng thực tế kỳ thi tốt nghiệp THPT lại chứng kiến xu hướng học sinh ngày càng nghiêng về các môn xã hội, trong khi các môn khoa học tự nhiên liên tục giảm sức hút.

Theo các chuyên gia, sự chênh lệch lựa chọn môn thi không chỉ phản ánh tâm lý "chọn môn dễ" mà còn cho thấy những bất cập kéo dài trong hướng nghiệp, chương trình phổ thông và cơ chế tuyển sinh, đòi hỏi sớm có giải pháp tháo gỡ đồng bộ.

Nghịch lý thời AI: Tin học, khoa học tự nhiên lép vế

Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) ngày 6/5 công bố số lượng thí sinh đăng ký dự thi tốt nghiệp THPT 2026 theo từng môn, cho thấy xu hướng lựa chọn tiếp tục nghiêng về nhóm khoa học xã hội.

Trong các môn tự chọn, Lịch sử dẫn đầu với hơn 570.000 thí sinh đăng ký. Đây cũng là môn học bắt buộc trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Đứng thứ hai là Địa lý với gần 449.000 lượt chọn, giảm khoảng 46.000 so với năm trước.

Ở nhóm còn lại, Vật lý ghi nhận gần 390.000 thí sinh tăng so với năm trước, trong khi Ngoại ngữ (chủ yếu là tiếng Anh) có hơn 347.000 thí sinh, tiếp tục xu hướng giảm.

Đáng chú ý, Tin học và Công nghệ công nghiệp là hai môn có tốc độ tăng mạnh nhất, lần lượt gấp 2,4 đến 3 lần, đạt khoảng 18.700 và hơn 7.400 thí sinh. Dù vậy, đây vẫn là hai môn có số lượng đăng ký thấp nhất trong các môn thi tốt nghiệp THPT năm 2026.

TS. Lê Viết Khuyến, Phó Chủ tịch Hiệp hội các trường ĐH, CĐ Việt Nam cho biết, cách đây hơn hai năm, ông cùng một số chuyên gia đã sớm cảnh báo về sự thiếu đồng bộ giữa chương trình giáo dục phổ thông 2018, việc tổ chức dạy học, thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học. Theo ông, chính sự thiếu liên kết này đang dẫn tới xu hướng học sinh ngày càng nghiêng về các môn xã hội, khiến cho mục tiêu phát triển nguồn nhân lực STEM khó đạt được.

Theo TS. Lê Viết Khuyến, định hướng phát triển quốc gia hiện nay đặt trọng tâm vào đào tạo nguồn nhân lực STEM nhằm phục vụ các lĩnh vực công nghệ cao, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Cụ thể, tại Quyết định Quyết định 1002/QĐ-TTg ban hành ngày 24/5/2025, Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ người học các ngành STEM đạt tối thiểu 35% ở mỗi trình độ đào tạo, tập trung vào các lĩnh vực công nghệ cao và công nghệ chiến lược.

Tuy nhiên, theo ông, thực tế triển khai ở bậc phổ thông lại đang diễn ra theo chiều ngược lại khi học sinh ngày càng có xu hướng lựa chọn các môn xã hội hoặc những môn được cho là "dễ học, dễ đạt điểm cao", thay vì nhóm môn khoa học tự nhiên – nền tảng của STEM, vốn khó và có nhiều đổi mới.

Tháo gỡ

Số lượng thí sinh đăng ký từng môn thi Tốt nghiệp THPT năm 2025 và 2026

"Ở bậc THCS, học sinh gần như không được hướng nghiệp. Mục tiêu lớn nhất của phụ huynh và học sinh là làm sao đỗ vào lớp 10 công lập. Nhưng ngay khi vừa bước vào THPT, học sinh đã phải đăng ký các môn tự chọn, tức là gần như quyết định luôn hướng học ngành nào, trường nào trong tương lai", ông nói.

TS. Khuyến cũng đề xuất cho phép học sinh được chuyển đổi môn tự chọn trong quá trình học nếu có nhu cầu định hướng lại ngành nghề.

"Các môn vào STEM như Toán, Lý, Hóa, Sinh hiện nay đều là những môn khó học, chương trình đổi mới nhiều. Trong khi đó, học sinh vừa trải qua áp lực thi vào lớp 10 nên thường chọn những môn nhẹ hơn để giảm áp lực", ông nhận định.

Ông cho rằng việc tổ chức môn tự chọn hiện nay cũng tạo áp lực cho chính các trường phổ thông. Nhà trường phải cân đối đội ngũ giáo viên, từ đó dẫn tới việc xây dựng các tổ hợp môn mang tính "dễ vận hành" hơn là bám sát định hướng nghề nghiệp cho học sinh.

Theo TS. Khuyến, trước đây hệ thống các khối thi truyền thống như khối A, B, C, D có tính định hướng khá rõ ràng: khối A, B phục vụ các ngành khoa học tự nhiên – kỹ thuật – sức khỏe; khối C dành cho khoa học xã hội; khối D thiên về ngoại ngữ. Tuy nhiên hiện nay, việc mở rộng quá nhiều tổ hợp xét tuyển khiến định hướng nghề nghiệp bị "pha loãng". "Bây giờ có tới hàng chục tổ hợp xét tuyển khác nhau. Điều đó khiến học sinh rối và mất đi tính định hướng", ông Khuyến nói.

Liên quan tới việc môn Tin học liên tiếp có tỷ lệ học sinh chọn thi tốt nghiệp thấp dù AI và chuyển đổi số bùng nổ, TS. Khuyến cho rằng cần nhìn rõ bản chất của môn học này.

Ông phân tích, hiện nay có hai hướng tiếp cận Tin học: một là khoa học máy tính thuần túy; hai là tin học ứng dụng trong các lĩnh vực như quản lý, kinh doanh, du lịch, dịch vụ… Trong khi thị trường lao động đang cần mạnh các ngành liên ngành, ứng dụng công nghệ vào thực tiễn, thì việc hướng nghiệp và giới thiệu ngành học ở phổ thông vẫn còn nặng tư duy đơn ngành.

"Xu hướng thế giới là các ngành giao thoa, liên ngành. Nhưng ở mình, giáo viên dạy Tin học chỉ nói về Tin học, giáo viên kinh tế chỉ nói về kinh tế. Học sinh ít được hình dung việc ứng dụng công nghệ vào các lĩnh vực cụ thể. Chương trình phổ thông mới ở một số môn tự nhiên đang bị đẩy lên quá nặng về lý thuyết, thậm chí mang tính hàn lâm", ông Khuyến phân tích.

Ông lấy ví dụ ở môn Hóa học, nhiều nội dung được đưa xuống phổ thông nhưng mang tính chất kiến thức đại học như mô hình đám mây electron hay các khái niệm xác suất trong cấu trúc nguyên tử. Tương tự, Sinh học cũng xuất hiện nhiều nội dung di truyền phức tạp vượt quá mức tiếp cận phổ thông.

"Hiện nay, một số kiến thức đại học đưa xuống phổ thông để gọi là đổi mới, hiện đại hóa. Điều này khiến học sinh càng e ngại các môn tự nhiên", ông nói.

Dữ liệu trong 5 năm qua cho thấy sự lệch pha này không chỉ diễn ra trong ngắn hạn mà đã kéo dài. Đến năm 2025 - lứa học sinh đầu tiên học theo chương trình giáo dục phổ thông mới - khoảng cách này tiếp tục gia tăng. Các môn như Lịch sử, Địa lý chiếm ưu thế rõ rệt, trong khi Hóa học, Sinh học, Công nghệ và Tin học giảm xuống mức thấp kỷ lục.

Xu hướng học sinh ngày càng ít lựa chọn các môn khoa học tự nhiên không chỉ phản ánh sự thay đổi trong hành vi học tập mà còn đặt ra yêu cầu cấp thiết về điều chỉnh chính sách giáo dục, từ chương trình, phương pháp giảng dạy đến cách thức thi cử và tuyển sinh, nhằm đảm bảo cân bằng và phát triển bền vững nguồn nhân lực trong tương lai.

Cần chiến lược đồng bộ để cứu "đầu vào" STEM

Theo TS. Lê Viết Khuyến, để giải quyết tình trạng lệch pha giữa mục tiêu phát triển nguồn nhân lực STEM và xu hướng học sinh ngày càng ít lựa chọn các môn khoa học tự nhiên, Việt Nam cần một chiến lược cải tổ đồng bộ từ phổ thông đến giáo dục nghề nghiệp và đại học.

Thứ nhất, xây dựng chiến lược đào tạo đồng bộ theo mô hình "tháp nhân lực", liên thông từ dạy nghề – trung học nghề – cao đẳng – đại học – chuyên gia, thay vì quá tập trung vào đào tạo đại học như hiện nay.

Thứ hai, đẩy mạnh phân luồng sau THCS. Theo TS. Khuyến, cần hướng tới tỷ lệ hợp lý khoảng 40-50% học sinh vào THPT và 50-60% theo học trung học nghề, nhằm giảm áp lực "đua" vào THPT công lập và tạo lực lượng lao động kỹ thuật cơ bản đồng bộ cho nền kinh tế.

Thứ ba, bổ sung luồng THPT hướng nghiệp trong chương trình giáo dục phổ thông 2018. Ông đề xuất đưa các môn nghề từ chương trình trung cấp nghề vào phần tự chọn ở THPT để các trường xây dựng các tổ hợp môn mang tính định hướng nghề nghiệp sâu hơn.

Theo đề xuất này, học sinh theo luồng trung học hướng nghiệp khi thi tốt nghiệp chỉ cần thi hai môn bắt buộc là Toán và Ngữ văn; bằng trung cấp nghề có thể thay thế cho hai môn tự chọn. Học sinh sau khi tốt nghiệp vừa có bằng học vấn tương đương THPT, vừa đạt chuẩn đầu ra bậc trung cấp nghề và được phép liên thông lên cao đẳng, đại học.

Thứ tư, thúc đẩy cơ chế liên thông và học tập suốt đời. TS. Khuyến cho rằng cần tạo cơ chế liên thông linh hoạt từ trung học - cao đẳng - đại học; đồng thời khuyến khích người học cập nhật kỹ năng công nghệ mới và chuẩn hóa bằng cấp để người học nghề có cơ hội nâng trình độ.

Thứ năm, tăng gắn kết với doanh nghiệp. TS Khuyến đề xuất doanh nghiệp tham gia thiết kế chương trình đào tạo, tổ chức thực tập dài hạn, đánh giá kỹ năng nghề và đặt hàng đào tạo theo nhu cầu thực tế của thị trường lao động.

Thứ sáu, hoàn thiện cơ chế quản trị và chính sách. Theo TS. Khuyến, cần xây dựng hội đồng cố vấn đa thành phần gồm doanh nghiệp, cơ quan quản lý và giảng viên; đồng thời có cơ chế tài chính bền vững, học bổng và ưu đãi cho học sinh học nghề. Cần tháo gỡ rào cản pháp lý để trường THPT có thể dạy chương trình nghề, còn trường cao đẳng được đào tạo trình độ trung học và cao đẳng linh hoạt.

Tháo gỡ

TS. Lê Viết Khuyến, Phó Chủ tịch Hiệp hội các trường ĐH, CĐ Việt Nam. Ảnh: Hà Phương

Bên cạnh đó, chuyên gia kiến nghị Bộ GD&ĐT khẩn trương rà soát, đánh giá toàn diện Chương trình giáo dục phổ thông 2018 ở cả ba cấp học, đặc biệt là bậc THPT, trên các phương diện như mục tiêu, nội dung, mức độ quá tải, khả năng hướng nghiệp, phân luồng và liên thông. Nếu phát hiện bất cập nghiêm trọng cần sớm điều chỉnh.

Theo TS. Khuyến, chương trình THPT hiện nay cần loại bỏ những môn học không phục vụ mục tiêu hướng nghiệp hoặc trang bị kỹ năng nền tảng cần thiết cho học sinh. Thay vào đó, cần bổ sung các môn nghề từ chương trình trung cấp nghề vào phần tự chọn để các trường có thể xây dựng các tổ hợp môn mang tính định hướng nghề nghiệp sâu hơn, đa dạng hơn, từ đó hình thành luồng THPT định hướng nghề nghiệp.

Về thi cử, ông kiến nghị Nhà nước đầu tư xây dựng 1-2 trung tâm khảo thí quốc gia độc lập, hoạt động không vì lợi nhuận để triển khai các dịch vụ đo lường, đánh giá giáo dục.

Đồng thời, kỳ thi tốt nghiệp THPT cần được cải tiến theo hướng đánh giá năng lực, tăng cường thi trên máy tính, sử dụng ngân hàng đề thi chuẩn hóa và có thể tổ chức nhiều đợt trong năm.

Trong giai đoạn vẫn duy trì hình thức thi trên giấy, TS. Khuyến đề xuất Bộ GD&ĐT chỉ tổ chức thi theo 4 tổ hợp truyền thống A, B, C, D nhằm đảm bảo tính định hướng nghề nghiệp rõ ràng và giảm tình trạng "loạn tổ hợp".

Liên quan tuyển sinh đại học, ông cho rằng Bộ GD&ĐT cần thống nhất sử dụng kết quả kỳ thi tốt nghiệp THPT làm tiêu chí chính cho tuyển sinh đại học và giáo dục nghề nghiệp, đúng tinh thần Nghị quyết Nghị quyết 29-NQ/TW: "... Đổi mới phương thức thi và công nhận tốt nghiệp THPT theo hướng giảm áp lực và tốn kém cho xã hội mà vẫn bảo đảm độ tin cậy, trung thực, đánh giá đúng năng lực học sinh, làm cơ sở cho việc tuyển sinh giáo dục nghề nghiệp…".

Bên cạnh đó, Bộ cũng cần quy định lại các tổ hợp xét tuyển theo hướng hợp lý, kiên quyết loại bỏ các tổ hợp "lạ", thiếu cơ sở khoa học. Các trường đại học chỉ nên sử dụng thêm tiêu chí phụ đối với những ngành đặc thù như năng khiếu hoặc ngành có mức cạnh tranh cao.

Tuyển sinh đại học năm 2026 có những chính sách mới hỗ trợ người học theo các nhóm ngành STEM. Bộ GD&ĐT đang trình Chính phủ dự thảo Nghị định Quy định chính sách học bổng cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược.

Mục tiêu không chỉ dừng ở hỗ trợ chi phí học tập, sinh hoạt cho người học, mà quan trọng hơn là tạo động lực đủ mạnh để thu hút và giữ chân người học giỏi theo đuổi các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược - những lĩnh vực có vai trò quyết định đối với năng lực cạnh tranh quốc gia…

Chính sách học bổng này này áp dụng cho công dân Việt Nam đang theo học hệ chính quy, từ sinh viên cử nhân, kỹ sư đến học viên thạc sĩ, nghiên cứu sinh tiến sĩ.

Học bổng vừa bảo đảm chi phí học tập - sinh hoạt, vừa tạo động lực mạnh để người học theo đuổi các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược. Chính sách dự kiến áp dụng từ ngày 1/9/2026.

Ý kiến của bạn
Bình luận
Xem thêm bình luận