Hội LHPN Việt Nam chuyển mạnh từ ứng dụng công nghệ thông tin sang chuyển đổi số toàn diện
Hội viên, phụ nữ được nâng cao năng lực, tiếp cận và thụ hưởng các cơ hội từ quá trình chuyển đổi số
Chuyển đổi số trong hệ thống Hội LHPN Việt Nam đang bước sang một chặng đường mới: không chỉ ứng dụng công nghệ vào công việc, mà thay đổi cách quản trị, cách tiếp cận, lắng nghe và hỗ trợ phụ nữ.
Ngày 10/10 hằng năm được chọn là Ngày Chuyển đổi số quốc gia, một dịp để nhìn lại những thay đổi đang diễn ra từ quản trị, sản xuất đến đời sống. Với phụ nữ, những thay đổi ấy đôi khi bắt đầu từ một chiếc điện thoại và một thao tác tưởng như rất đơn giản.
Theo ông Trần Kiên, Cục Chuyển đổi số quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ, chuyển đổi số có thể bắt đầu từ những việc rất nhỏ: một phụ nữ ở nông thôn dùng điện thoại để bán chai mật ong, bó rau của gia đình cho khách ở mọi miền; một nữ công nhân tra cứu thông tin bảo hiểm trên mạng mà không phải xin nghỉ làm; hay một người mẹ biết nhận diện tin nhắn lừa đảo để bảo vệ con mình.
Từ những việc tưởng như rất nhỏ ấy có thể thấy chuyển đổi số không chỉ là câu chuyện của máy tính hay phần mềm. Trước hết, đó là câu chuyện của con người, nhằm làm cho cuộc sống thuận tiện hơn, an toàn hơn, minh bạch hơn và tạo thêm cơ hội cho mỗi người dân, trong đó có phụ nữ.
Với Hội LHPN Việt Nam, ý nghĩa ấy càng rõ khi chuyển đổi số được đặt trong yêu cầu đổi mới phương thức hoạt động của một tổ chức chính trị - xã hội đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ.

Phó Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam Nguyễn Thị Thu Hiền (thứ 4 từ phải sang) và các đại biểu tham dự Hội thảo quốc gia với chủ đề "Chuyển đổi số toàn diện trong hệ thống Hội - giải pháp đổi mới phương thức hoạt động Hội, góp phần thúc đẩy thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW"
Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ phương thức làm việc, quản trị và hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị. Kế thừa kết quả của khâu đột phá về ứng dụng công nghệ thông tin trong nhiệm kỳ XIII, Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ XIV xác định "Chuyển đổi số toàn diện trong hệ thống Hội; đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập trung hướng mạnh về cơ sở, gần dân, vì dân" là một trong những khâu đột phá của nhiệm kỳ.
ThS. Nguyễn Thị Thu Hiền, Phó Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam, Phó trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của Hội LHPN Việt Nam, nhấn mạnh: Điều đó đặt ra yêu cầu Hội phải chuyển mạnh từ ứng dụng công nghệ thông tin sang chuyển đổi số toàn diện trong cách thức quản trị, điều hành và tổ chức hoạt động, hướng tới hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả.
Chuyển đổi số toàn diện không thể chỉ được hiểu là đầu tư thêm hạ tầng, phần mềm hay số hóa các quy trình hiện có. Điều quan trọng hơn là phải tạo được sự thay đổi trong tư duy quản trị, phương thức tổ chức hoạt động, năng lực của cán bộ, cách thức tương tác với hội viên, phụ nữ và khả năng sử dụng dữ liệu để ra quyết định.
ThS. Nguyễn Thị Thu Hiền, Phó Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam; Phó trưởng Ban thường trực Ban Chỉ đạo về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của Hội LHPN Việt Nam
Vẫn còn những khoảng cách về năng lực số
Nhìn lại nhiệm kỳ vừa qua, các cấp Hội đã từng bước đầu tư, hoàn thiện hạ tầng và các nền tảng phục vụ quản lý, điều hành; đẩy mạnh số hóa quy trình nghiệp vụ, quản lý văn bản, tổ chức hội nghị, tập huấn và các hoạt động trên môi trường số.
Công tác truyền thông, tuyên truyền, vận động phụ nữ trên các nền tảng số ngày càng được mở rộng. Việc xây dựng, chuẩn hóa dữ liệu về tổ chức Hội, cán bộ, hội viên, phụ nữ được triển khai, hướng tới kết nối với dữ liệu dân cư quốc gia. Cùng với đó là nhiều hoạt động nâng cao năng lực số, hỗ trợ hội viên, phụ nữ tiếp cận công nghệ, dịch vụ số và các cơ hội từ kinh tế số, xã hội số.
Những kết quả này góp phần đổi mới phương thức hoạt động, nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành, mở rộng kết nối giữa tổ chức Hội với hội viên, phụ nữ, tạo nền tảng để bước sang giai đoạn chuyển đổi số toàn diện.

Các cấp Hội ứng dụng chuyển đổi số trong hoạt động
Ở góc độ quản trị số, TS. Nguyễn Đức Toàn, Phó Viện trưởng Viện Công nghệ thông tin, Học viện Phụ nữ Việt Nam, cho rằng mô hình quản trị số của hệ thống Hội đang được hiện thực hóa qua 3 trụ cột.
Thứ nhất là nền tảng "App Phụ nữ Việt Nam", đóng vai trò hạt nhân kết nối, tích hợp các công cụ tư vấn pháp luật, chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ khởi nghiệp số và cung cấp các khóa học ngắn dạng micro-learning.
Thứ hai là Cơ sở dữ liệu Hội viên tập trung, coi dữ liệu là "tài sản số" cốt lõi. Việc hoàn thành kết nối dữ liệu Hội với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư giúp quản lý hội viên chính xác, minh bạch và khoa học.
Thứ ba là đổi mới mô hình hoạt động ở cơ sở với các mô hình "Chi hội số", "Gia đình số", "Chợ số - Nông thôn số" và "Câu lạc bộ phụ nữ khởi nghiệp số", tạo mạng lưới tương trợ học tập công nghệ tại các địa phương.
Tuy nhiên, nền móng ấy chưa có nghĩa chuyển đổi số đã đồng đều. Khoảng cách năng lực số phần nào lý giải vì sao quá trình chuyển đổi số trong hệ thống Hội vẫn chưa đồng đều.
Dựa trên kết quả khảo sát diện rộng trên 57.575 hội viên phụ nữ tại 30 tỉnh, thành phố toàn quốc năm 2026, thực trạng phân hóa trình độ năng lực số của hội viên được ghi nhận ở 5 mức độ rõ rệt. Cụ thể, số hội viên ở Mức 1 (chưa làm được) chiếm tỷ lệ 11,30%; Mức 2 (cần hướng dẫn hoặc tài liệu) chiếm 20,80%; Mức 3 (tự làm được trong tình huống quen thuộc) chiếm 24,10%; Mức 4 (thực hiện dễ dàng trong nhiều tình huống) chiếm 19,50%; và Mức 5 (thành thạo, có khả năng hướng dẫn người khác) đạt 24,30%.
Những điểm nghẽn phía sau màn hình
Theo Phó Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam Nguyễn Thị Thu Hiền, hơn 44% số mô hình tại cơ sở vẫn chỉ dừng lại ở mức tuyên truyền, lập nhóm Zalo/Facebook cơ bản, chưa đi sâu gắn với hiệu quả kinh tế - xã hội cụ thể. Hạ tầng kỹ thuật và cơ sở dữ liệu ở nhiều nơi còn phân tán, thiếu đồng bộ; việc kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu dùng chung chưa được phát huy toàn diện.
Một điểm nghẽn khác là nguồn nhân lực. Hội còn thiếu cán bộ có chuyên môn sâu về công nghệ thông tin ở các cấp; năng lực số và kỹ năng ứng dụng công nghệ của một bộ phận cán bộ Hội, hội viên, phụ nữ chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu. Cán bộ Hội cũng chịu áp lực trong việc làm sạch, chuẩn hóa dữ liệu hội viên do khối lượng dữ liệu lớn và nguồn dữ liệu lịch sử thiếu tính đồng nhất.
Song, công nghệ không phải rào cản duy nhất. Định kiến xã hội, cùng gánh nặng công việc gia đình không lương, đang chiếm phần lớn thời gian của phụ nữ, khiến động lực và cơ hội học tập, nâng cao kỹ năng số của chị em, nhất là nhóm yếu thế, phụ nữ dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa bị hạn chế. Ở một số địa phương, tổ chức Hội còn lúng túng khi tập hợp, vận động những nhóm phụ nữ đặc thù trên không gian mạng.
Cùng với đó là vấn đề an toàn, an ninh trên không gian mạng. Nguy cơ phụ nữ bị bỏ lại phía sau trong quá trình chuyển đổi số, rủi ro về an toàn thông tin và tình trạng lừa đảo trực tuyến đòi hỏi cách tiếp cận bao trùm và an toàn hơn.

Công nghệ số mở ra cánh cửa cho nhiều phụ nữ phát triển kinh tế
Ông Trần Kiên cũng chỉ ra một rào cản đáng lưu ý của chị em khi ứng dụng chuyển đổi số, đó là tâm lý ngại thay đổi. Cụ thể như: có cán bộ quen ghi chép bằng sổ; có hội viên ngại ứng dụng vì sợ bấm nhầm, mất tiền, lộ thông tin; có phụ nữ lớn tuổi chỉ nghe đến "tài khoản", "mật khẩu", "mã xác thực" đã cảm thấy khó.
Vì thế, chuyển đổi số muốn đi vào đời sống phải bắt đầu từ lợi ích cụ thể: tiết kiệm thời gian, giảm rủi ro, bán hàng thuận lợi hơn, bảo vệ con em tốt hơn.
Chuyển đổi số trong tổ chức Hội trước hết là chuyển đổi cách phục vụ hội viên. Khi mỗi hoạt động số đều hướng đến phụ nữ, vì phụ nữ và cùng phụ nữ, thì chuyển đổi số sẽ không còn là một khẩu hiệu, mà trở thành động lực đổi mới thực chất của tổ chức Hội trong giai đoạn mới.
Ông Trần Kiên, Cục Chuyển đổi số quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ
Tháo điểm nghẽn từ cách làm
Theo các chuyên gia, đối với Hội LHPN Việt Nam, chuyển đổi số phải được nhìn như một nhiệm vụ của toàn bộ tổ chức, không phải việc riêng của bộ phận công nghệ.
TS. Nguyễn Đức Toàn đề xuất Hội sớm ban hành Khung năng lực số dành cho Phụ nữ Việt Nam, đồng thời cá nhân hóa chương trình đào tạo theo 3 nhóm: cán bộ chuyên trách, hội viên nòng cốt và hội viên vùng khó khăn; tăng cường học liệu số dạng video ngắn và phương pháp học tập chia nhỏ trên App Phụ nữ Việt Nam và cổng Bình dân học vụ số.

Phong trào Bình dân học vụ số đang được triển khai rộng rãi tại các cấp Hội
Ông Trần Kiên nêu ra một số giải pháp trọng tâm đối với hệ thống Hội LHPN Việt Nam. Cụ thể: Người đứng đầu phải trực tiếp quan tâm, chỉ đạo và chịu trách nhiệm về kết quả. Chuyển đổi số cần được xác định là nhiệm vụ chính trị thường xuyên, có mục tiêu, lộ trình, nguồn lực và chỉ số đánh giá; không nên coi đây là phong trào ngắn hạn hay đơn giản là "có phần mềm, ứng dụng là xong".
Cùng với đó là xây dựng, quản trị tốt dữ liệu của tổ chức Hội. Dữ liệu không chỉ là vấn đề kỹ thuật, mà giúp Hội biết hội viên của mình là ai, ở đâu, có nhu cầu gì, đang gặp khó khăn gì và cần hỗ trợ gì.
Nhưng càng sử dụng dữ liệu, càng phải coi trọng trách nhiệm bảo vệ dữ liệu cá nhân của phụ nữ, trẻ em, hội viên và các nhóm yếu thế. Không phải ai cũng được xem mọi thông tin và không phải thông tin nào cũng được chia sẻ tùy tiện.
Năng lực số cũng cần được đào tạo theo nhu cầu. Phụ nữ kinh doanh cần kỹ năng bán hàng trực tuyến; phụ nữ nông thôn cần kỹ năng gắn với tiêu thụ nông sản; phụ nữ cao tuổi cần ưu tiên phòng tránh lừa đảo; phụ nữ trẻ và trẻ em gái cần kỹ năng an toàn số. Cách đào tạo cần dễ hiểu, thực hành nhiều, đi từ những tình huống thật.

Hội viên, phụ nữ cần được nâng cao năng lực số để đảm bảo an toàn
Ông Trần Kiên cũng đề xuất một nhiệm vụ trọng tâm nữ là tái thiết kế hoạt động Hội trên môi trường số. Các kênh số của Hội cần trở thành nơi hội viên tiếp cận thông tin chính thống, gửi câu hỏi, đăng ký nhu cầu hỗ trợ, học kỹ năng, kết nối sinh kế và nhận tư vấn. Mô hình "Hội cơ sở số" có thể được xây dựng với những tiêu chí cụ thể: có kênh thông tin chính thống; nhóm nòng cốt hướng dẫn kỹ năng số; hoạt động hỗ trợ phụ nữ sử dụng dịch vụ công trực tuyến; nội dung bảo vệ phụ nữ và trẻ em trên không gian mạng; mô hình hỗ trợ sinh kế số.
Đặc biệt, hiệu quả chuyển đổi số cần được đo bằng kết quả cuối cùng. Số liệu không chỉ là bao nhiêu hội nghị được tổ chức, bao nhiêu lớp tập huấn hay bao nhiêu tài khoản được tạo lập, mà là bao nhiêu phụ nữ thực sự sử dụng được dịch vụ số, bao nhiêu người bán được hàng qua kênh số, bao nhiêu người biết tự bảo vệ trước lừa đảo trực tuyến và bao nhiêu phản ánh của hội viên được tiếp nhận, xử lý nhanh hơn.
"Chỉ khi đo được kết quả cuối cùng, chúng ta mới biết chuyển đổi số có thực chất hay không. Và chỉ khi phụ nữ cảm nhận được lợi ích cụ thể, chuyển đổi số mới trở thành nhu cầu tự thân, chứ không chỉ là nhiệm vụ được phát động từ trên xuống", ông Trần Kiên nhấn mạnh.

Hội viên, phụ nữ được nâng cao năng lực, tiếp cận và thụ hưởng các cơ hội từ quá trình chuyển đổi số
Đồng quan đểm này, Phó Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam Nguyễn Thị Thu Hiền khẳng định: Thành công của chuyển đổi số trong hệ thống Hội không đo bằng số lượng phần mềm hay nền tảng được xây dựng, mà bằng việc phụ nữ được tiếp cận cơ hội tốt hơn, được bảo vệ an toàn hơn, tham gia xã hội số tự tin hơn và đóng góp nhiều hơn cho gia đình, cộng đồng và đất nước.
Khi chuyển đổi số thực sự bắt đầu từ nhu cầu của hội viên và trở lại phục vụ hội viên, công nghệ sẽ không còn là câu chuyện của riêng hệ thống hay bộ phận chuyên môn, mà trở thành một phương thức để Hội LHPN Việt Nam gần dân hơn, lắng nghe tốt hơn và đồng hành hiệu quả hơn.