Khúc ca bình dị, tươi trẻ của hồn thơ tuổi 80
Ảnh minh họa: AI
Ở tuổi hơn 80, khi người ta thường nhìn lại quá khứ bằng ánh mắt trầm mặc, nhà giáo Nguyễn Xuân Điềm lại chọn cách làm sống lại những miền xưa bằng một trái tim rạo rực và tươi trẻ…
Có những người làm thơ để giãi bày lòng mình. Có những người làm thơ để níu giữ những gì thời gian đang lấy đi. Nhà giáo Nguyễn Xuân Điềm dường như thuộc về cả hai.
Đọc Tình quê đá ong, ta bắt gặp một tâm hồn đã đi qua hơn 80 mùa xuân mà vẫn giữ được độ tươi trẻ của cảm xúc, một người thầy đã trải bao năm tháng mà ánh nhìn cuộc đời vẫn hồn nhiên, thiết tha. Thơ ông không tìm cách gây choáng ngợp, duyên thơ nằm trong những điều thân thuộc nhưng qua trái tim thi sĩ bỗng ánh lên vẻ đẹp, đó chính là biệt tài: Đánh thức chất thơ tiềm ẩn trong đời sống bình dị.
Hoài niệm những mùa xưa
Thời gian vốn vô tình, những mái đình có thể cũ đi, bến đò có thể vắng bóng người, tuổi trẻ một đi không trở lại. Nhưng điều kỳ diệu của thơ là có thể làm cho cái đã qua một lần nữa hiện diện, không phải như bóng mờ của ký ức mà như một phần máu thịt đang sống trong tâm hồn. Trong Tình quê đá ong, Nguyễn Xuân Điềm có tài gọi dậy những miền xưa cũ bằng vài nét chấm phá tinh tế: Giọng hò vắt ngang sông/Vắt ngang thời thiếu nữ/Băng mình qua khói lửa/Tiếng hát càng xanh trong (Bến đò xưa).
Người viết đã có một phát hiện thật đẹp: Tiếng hò không chỉ vang trên dòng sông mà còn vắt ngang thời thiếu nữ. Điệp từ "vắt" thật tinh tế, một động từ vốn gợi hình bỗng trở thành nhịp cầu nối không gian với thời gian, nối cảnh vật với đời người. Dòng sông ngoài kia và dòng đời trong này gặp nhau trong một tiếng hát. Đặc biệt, chữ xanh ở câu kết không chỉ nói sự trong trẻo của âm thanh mà còn gợi sức sống bền bỉ của tâm hồn. Khói lửa có thể đi qua, năm tháng có thể đổi thay, nhưng vẻ đẹp của con người vẫn còn nguyên sức ngân vang. Đó là cách Nguyễn Xuân Điềm làm thơ về quá khứ: Không chìm trong nuối tiếc mà tìm ra sức sống của những điều đã qua.

Tập thơ "Tình quê đá ong" do NXB Tri thức ấn hành
Trong Nhớ ngày xưa có những câu thật thần tình: "Con chuồn chuồn ớt thuở nào/Nghiêng đôi cánh mỏng liệng vào tuổi thơ" và những hình ảnh vàng ươm, rập rờn, chênh chao khiến ký ức không nằm im trong miền xa vắng. Nắng, bướm, gió, chim cùng trở về, mang theo sắc màu và chuyển động của một thời tuổi trẻ. Những từ láy giàu sức gợi đã biến dòng hồi tưởng quá khứ thành một thước phim trữ tình, nơi cảnh vật cũng biết rung động, biết lưu luyến. Bởi thế, đọc thơ ông, ta không chỉ nhớ một miền quê cụ thể mà còn nhận ra miền quê của chính mình, nơi có tuổi thơ, có những người thương yêu, có những điều tưởng nhỏ nhoi mà càng đi xa càng trở nên quý giá.
Hoài niệm trong thơ Nguyễn Xuân Điềm vì vậy không khép lại ở cá nhân. Nó mở ra sự đồng cảm, đánh thức trong mỗi người tình yêu đối với cội nguồn.
Cái nhìn lãng mạn trước con người, cuộc sống
Lãng mạn là trạng thái cảm xúc vượt lên thực tại, hướng tới những gì đẹp đẽ. Điều đó không nhất thiết phải tìm đến những chân trời xa lạ. Đôi khi, nó bắt đầu từ khả năng nhìn thấy vẻ đẹp trong một dáng hình quen thuộc, một cử chỉ thoáng qua, một câu nói dân dã. Nguyễn Xuân Điềm có cái nhìn như thế: Hồn hậu mà tinh nghịch, đằm thắm mà không thiếu nét tài hoa. Trong bài Đừng…!, ông viết: "Ve ngân mát rượi trưa hè/Kề vai uống trọn lời thề thiêng liêng/Chiều tà, nắng quái, mưa xiên/Em ơi nghiêng nón đừng nghiêng lời thề!".
Bốn câu lục bát mà chứa cả một câu chuyện tình yêu. Cảnh hè, tiếng ve, dáng người nghiêng nón đều bình dị. Nhưng cái tài nằm ở chữ nghiêng. Nghiêng nón là một dáng hình có thể nhìn thấy; nghiêng lời thề là sự chao đảo của lòng người. Chỉ một chữ mà nối được cái hữu hình với cái vô hình, cái duyên dáng bên ngoài với phẩm giá bên trong. Câu thơ vừa có nét đùa vui, vừa kín đáo gửi gắm một lời nhắn nhủ về thủy chung. Tình yêu trong thơ ông vì thế không chỉ là rung động mà còn là lời hẹn ước với thời gian.
Đến Hội làng, không khí văn hóa quê hương hiện lên rộn ràng qua cờ, trống, trang phục rực rỡ... Nhưng giữa không gian ấy, câu thơ "Tay em nõn thế, chòng chành lòng ai" bất ngờ làm bật lên cái duyên riêng của tác giả. Chòng chành vốn gợi ấn tượng thị giác về một vật nghiêng ngả, chao đảo; nay được dùng để diễn tả trạng thái của trái tim. Chữ nghĩa dân gian qua cách dùng của ông vừa tự nhiên vừa tinh tế, gợi hình và cả gợi tình nữa. Cái nhìn lãng mạn ấy còn hiện diện trong cách ông cảm nhận thiên nhiên.
Ở bài Ông lão vườn đồi, hình ảnh:"Đầu gối ánh trăng trong/Chân gác làn gió mát" đem đến một dáng ngồi ung dung, tự tại. Trăng và gió không còn là cảnh vật bên ngoài mà trở thành những người bạn thân thiết của con người. Từ đó, câu thơ mở ra một tâm thế sống đáng quý: Biết hòa mình vào thiên nhiên, biết tìm niềm vui trong những điều giản dị.
Đặc biệt, Nguyễn Xuân Điềm không đánh mất sự trẻ trung khi nhìn lại tuổi của mình. Trong Thơ tình tuổi 70, ông hóm hỉnh viết: "70 còn làm thơ tình/Cưa sừng làm nghé vui mình, vui ta". Tiếng cười tự trào làm nhẹ đi khoảng cách tuổi tác, đồng thời khẳng định sức sống tươi trẻ của tâm hồn. Tuổi đời có thể chồng thêm năm tháng, nhưng tình yêu cuộc sống không nhất thiết phải già đi. Ở đây, cái duyên của người làm thơ gặp gỡ một triết lý sống: Còn biết rung động, còn biết đùa vui, con người vẫn giữ được phần trẻ trung nhất của mình.
Lời thơ gần gũi với dân gian
Nếu tình cảm là nguồn mạch thì ngôn từ chính là nơi tài năng Nguyễn Xuân Điềm bộc lộ rõ nhất. Ông có một vốn tiếng Việt rất phong phú, giàu sắc thái, đặc biệt gần gũi với lời ăn tiếng nói dân gian. Điều đáng nói không phải là ông sử dụng chất liệu quen thuộc, mà là khả năng làm cho chất liệu ấy mang một sức sống mới.

Chân dung nhà giáo giàu tâm hồn thơ Nguyễn Xuân Điềm
Trong Một thoáng ca dao, ông viết: "Giọng ai ngọt lịm mía lùi/Cho ta say đứng say ngồi năm xưa!". Giọng nói vốn được cảm nhận bằng thính giác, nhưng qua chữ ngọt lịm, nó lại mang tính chất của vị giác. Biện pháp tu từ ẩn dụ chuyển đổi cảm giác khiến lời nói trở nên hữu hình, có vị ngọt, có sức quyến rũ và khả năng đánh thức cả một miền ký ức. "Say đứng say ngồi" khiến câu thơ mang âm hưởng ca dao mà không phải là sự lặp lại ca dao. Đó là truyền thống đã thấm vào máu thịt, để rồi cất lên bằng tiếng nói riêng của hồn thơ.
Nét tài hoa đáng nể khác là khả năng người viết sử dụng từ láy. Rập rờn là cánh bướm như đang bay trước mắt; chênh chao khiến ngọn gió mang tâm trạng; phập phồng gợi nhịp thở của đồi núi và lòng người; chòng chành biến một rung động vô hình thành cảm giác cụ thể… Chữ nghĩa trong thơ Nguyễn Xuân Điềm không đứng yên để trang sức cho câu thơ, chúng vận động, tạo hình, tạo nhạc và chuyên chở cảm xúc. Lục bát là thể thơ quen thuộc, nhưng cũng chính vì quá quen mà dễ rơi vào trơn tru, dễ dãi. Nguyễn Xuân Điềm có biệt tài trong cách ngắt nhịp linh hoạt, những liên tưởng bất ngờ và giọng điệu thơ khi tha thiết, lúc tinh nghịch. Ông tiếp nối truyền thống, khơi dậy những khả năng còn tiềm ẩn trong đó.
Tuy nhiên, sẽ là chưa đủ nếu chỉ nhìn thấy cái duyên và sự tài hoa trong thơ ông. Đằng sau tiếng cười, lời nói dân dã vẫn là một tâm hồn từng trải, biết suy ngẫm về thân phận con người. Hai câu thơ trong bài Mộ vua Lê: "Xưa sao bệ ngọc ngai vàng/Mà nay một nấm cỏ hoang ven đường" đã lặng lẽ gợi quy luật nghiệt ngã của thời gian. Vinh hoa rồi cũng qua, quyền lực rồi cũng mất. Trước cái hữu hạn của đời người, câu thơ giản dị bỗng mang chiều sâu triết lý. Còn trong bài Chùa Tây Phương, những nếp nhăn trên tượng La Hán trở thành "sóng luân hồi chúng sinh", đôi mắt tượng đá như đang nén những bất bình của kiếp người. Cái nhìn nghệ thuật ở đây đã vượt khỏi vẻ đẹp tạo hình để chạm tới nỗi đau nhân thế.
Rõ ràng biệt tài của Nguyễn Xuân Điềm không chỉ nằm ở khả năng gieo vần, chọn chữ hay tạo nhịp. Cốt lõi của tài năng ấy là sự hòa quyện giữa tâm hồn dân dã, trí tưởng tượng lãng mạn và vốn sống của một con người đã đi qua gần một thế kỷ.
Tập thơ Tình quê đá ong không chỉ là cuộc trở về với mái đình, bến nước, tiếng hò hay những kỷ niệm riêng tư. Đó còn là cuộc trở về với những giá trị bền lâu của tâm hồn Việt: tình quê, tình người, lòng thủy chung và khả năng tìm thấy niềm vui giữa đời thường. Thơ Nguyễn Xuân Điềm không cầu kỳ mà có độ ngân vang; tiếng cười giàu suy tư; chuyện quê, chuyện nghề mà gợi bao điều minh triết về kiếp nhân sinh.