Xem thêm thông tin của Báo PNVN trên
Phụ nữ Việt Nam
MỚI NHẤT ĐỘC QUYỀN MULTIMEDIA CHUYÊN ĐỀ

Ký sự La Lay - Bài cuối: Sinh kế tại chỗ và "hành trang làm cha mẹ từ xa"

An Nhi - Thu Thảo
Ký sự La Lay - Bài cuối: Sinh kế tại chỗ và "hành trang làm cha mẹ từ xa"

Cần có những chính sách tạo sinh kế tại chỗ để tuổi thơ của những đứa trẻ vùng biên được nâng niu trọn vẹn giữa tình thương của cha mẹ. Ảnh minh hoạ: T.T

Từ thực tế nhức nhối về những khoảng trống tâm lý của con trẻ nơi rẻo cao biên giới, một câu hỏi đang đặt ra cho các cơ quan chuyên môn: Làm thế nào để cơ hội đổi đời của người ra đi không biến thành sự đứt gãy thế hệ đối với những người ở lại? Có cơ chế chính sách nào đủ mạnh để vừa giải quyết bài toán mưu sinh trước mắt, vừa bảo vệ môi trường sống an toàn, lành mạnh cho trẻ em và giữ gìn nền tảng gia đình bền vững?

Trước thực trạng đất sản xuất khan hiếm, địa hình chia cắt và thiên tai khắc nghiệt, không thể phủ nhận rằng di cư lao động và xuất khẩu lao động đang là lựa chọn mang tính cứu cánh đối với công tác giảm nghèo tại miền Tây Quảng Trị. Với một địa bàn vùng cao như xã La Lay, giữa năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều vẫn ở mức trên 43%, việc tạo điều kiện cho người dân tiếp cận thị trường lao động ngoài tỉnh và nước ngoài là hướng đi hoàn toàn phù hợp với tinh thần Chỉ thị số 20-CT/TW của Ban Bí thư cũng như định hướng phát triển thị trường lao động của Đảng bộ tỉnh.

Thực tế chứng minh, từ đồng vốn tích lũy từ mồ hôi nước mắt nơi xứ người, nhiều gia đình đã trang trải được nợ nần và mở ra hy vọng về một tương lai xua tan đói nghèo. Thế nhưng, câu chuyện di cư mưu sinh không thể chỉ tính bằng những con số kiều hối hay tỷ lệ giảm nghèo cơ học. Khi sự phát triển kinh tế phải đánh đổi bằng những tổn thương tâm lý lâu dài của con trẻ, đó là lúc trách nhiệm quản trị xã hội của địa phương cần phải vào cuộc bằng những giải pháp thể chế rõ ràng.

Kiến tạo "lá chắn" trách nhiệm

Từ thực tiễn quản lý giáo dục tại địa bàn vùng biên, ông Lê Minh Ái, Hiệu trưởng trường TH&THCS A Bung, cho rằng, giải pháp căn cơ trước mắt không nằm ở những lời kêu gọi chung chung, mà phải được hiện thực hóa bằng một quy trình liên lạc và giám sát mang tính bắt buộc giữa gia đình và nhà trường.

Theo thầy Ái, trước khi phụ huynh rời bản đi làm xa, chính quyền thôn bản và các cơ quan chức năng cần phối hợp với nhà trường thiết lập một "biên bản bàn giao trách nhiệm giám hộ" cụ thể. Trong đó, người chăm sóc thay thế phải ký cam kết phối hợp với giáo viên chủ nhiệm trong việc duy trì nền nếp học tập, theo dõi chuyên cần và bảo đảm dinh dưỡng hằng ngày cho học sinh. Về phía nhà trường, bên cạnh công tác chuyên môn, các thầy cô sẽ cố gắng gần gũi, theo dõi những biến động tâm lý của học sinh có hoàn cảnh đặc biệt, hỗ trợ kịp thời ngay khi các em có biểu hiện sa sút hoặc khép mình, tuyệt đối không chờ đến khi phát sinh nguy cơ bỏ học mới tìm cách vận động.

Ký sự La Lay – Bài cuối: Sinh kế tại chỗ và “Hành trang làm cha mẹ từ xa” - Ảnh 1.

Phó Chủ tịch thường trực Hội LHPN tỉnh Quảng Trị Trần Thị Thúy Nga (bìa phải) trao mô hình Hỗ trợ sinh kế cho phụ nữ vùng biên. Ảnh: T.T

Trao đổi về giải pháp tăng cường bảo vệ, chăm sóc trẻ em, nhất là những em có cha mẹ đi làm ăn xa, Phó Chủ tịch thường trực Hội LHPN tỉnh Quảng Trị Trần Thị Thúy Nga cho rằng, cần phát huy mạnh mẽ hơn vai trò của hệ thống chính trị ở cơ sở, đồng thời lồng ghép các mô hình hiệu quả của Hội LHPN tỉnh như Dự án 8 vào hoạt động thường xuyên tại địa bàn dân cư.

Theo bà Trần Thị Thuý Nga, các mô hình như nhóm Cha mẹ có con dưới 18 tuổi, Câu lạc bộ Thủ lĩnh của sự thay đổi, Tổ truyền thông cộng đồng,… cần được duy trì theo hướng thiết thực, bền vững, có sự tham gia, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, Mặt trận, các đoàn thể, cán bộ, đảng viên và người dân. 

"Tôi cho rằng, điều quan trọng là phải xây dựng được mạng lưới cộng tác viên, hỗ trợ trẻ em ngay tại cộng đồng. Chúng ta có thể nghiên cứu phân công đảng viên, hội viên phụ nữ nòng cốt hoặc người có uy tín tại khu dân cư thường xuyên quan tâm, nắm bắt hoàn cảnh của những gia đình có trẻ em mà cha mẹ đi làm ăn xa, đang sống cùng ông bà hoặc người thân. Khi phát hiện những biểu hiện bất thường hoặc nguy cơ trẻ bị bạo lực, xâm hại, bỏ mặc, thiếu sự chăm sóc, thông tin cần được chuyển kịp thời đến chính quyền và mạng lưới bảo vệ trẻ em ở cơ sở để có biện pháp hỗ trợ, can thiệp phù hợp. Làm tốt từ cộng đồng chính là tạo thêm một "vòng bảo vệ", để không trẻ em nào bị bỏ lại phía sau chỉ vì cha mẹ phải đi xa mưu sinh", Phó Chủ tịch thường trực Hội LHPN tỉnh Quảng Trị Trần Thị Thúy Nga chia sẻ.

Khơi thông mạch nguồn sinh kế: Lối mở căn cơ cho ngày sum họp trọn vẹn

Dù vậy, mọi quy chế phối hợp của nhà trường hay sự đồng hành của các tổ chức, đoàn thể dẫu có chu toàn đến đâu cũng mới giải quyết được một phần của vấn đề. Điểm cốt lõi mang tính chiến lược lâu dài để trẻ em không còn phải chịu cảnh tựa cửa ngóng cha mẹ, điều căn cơ vẫn là tạo dựng sinh kế ổn định, giải quyết việc làm bền vững ngay tại quê hương. Đây không chỉ là bài toán kinh tế, mà còn gắn với mục tiêu chăm lo đời sống Nhân dân, củng cố nền tảng gia đình và bảo đảm an sinh xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới. Khi nương rẫy, bản làng có thể tạo ra sinh kế đủ bền vững, người dân sẽ có thêm cơ hội lựa chọn ở lại quê hương, thay vì phải coi những cuộc ly hương là con đường mưu sinh duy nhất.

Ký sự La Lay – Bài cuối: Sinh kế tại chỗ và “Hành trang làm cha mẹ từ xa” - Ảnh 2.

Hội LHPN tỉnh Quảng Trị tổ chức tập huấn Kỹ năng quản lý tài chính, cá nhân cho hội viên, phụ nữ. Ảnh: T.T

Hiện nay, vùng đất La Lay nói riêng và dải biên viễn phía Tây Quảng Trị nói chung đang đứng trước thời cơ vàng để tái cơ cấu không gian phát triển kinh tế. Với lợi thế sở hữu Cửa khẩu quốc tế La Lay nằm trên tuyến hành lang giao thương huyết mạch nối liền với Quốc lộ 15D về khu kinh tế biển Mỹ Thủy, khu vực này đang mở ra tiềm năng khổng lồ về dịch vụ logistics, kho bãi và thương mại xuyên biên giới. Để những tiềm năng ấy thực sự chuyển hóa thành nguồn sống của người dân, bài toán phát triển vùng biên đòi hỏi những giải pháp thực chất: thu hút đầu tư hạ tầng phải đi đôi với đào tạo nghề và sử dụng lao động tại chỗ.

Cùng với kinh tế cửa khẩu, một giải pháp căn cơ khác có thể giữ chân phụ nữ ở lại bản làng chính là đánh thức các giá trị văn hóa và nông nghiệp bản địa. Thực tế từ Tổ hợp tác Dệt thổ cẩm A Bung - mô hình do Hội LHPN tỉnh Quảng Trị phối hợp Tổ chức Plan International hỗ trợ - đã chứng minh: khi sản xuất truyền thống được tổ chức lại theo hướng kinh tế tập thể và đưa lên sàn thương mại điện tử, người phụ nữ Pa Kô hoàn toàn có thể tự chủ thu nhập ngay tại nếp nhà mình.

Từ hạt nhân này, chính quyền và các tổ chức đoàn thể cần tiếp tục tiếp sức về vốn vay chính sách, chuyển giao kỹ thuật và kết nối đầu ra để nhân rộng các mô hình kinh tế hộ, kinh tế hợp tác. Khi sinh kế bám rễ vững vàng trên nương rẫy, người mẹ không còn phải dứt áo tha hương thì con trẻ sẽ không còn chịu cảnh côi cút giữa những năm tháng đầu đời.

Song song đó, một mắt xích chiến lược cần sớm hoàn thiện là chính sách "hậu xuất khẩu lao động". Lâu nay, không ít lao động sau khi hết hạn hợp đồng trở về rơi vào cảnh hụt hẫng vì thiếu định hướng, khiến đồng vốn tích lũy nhanh chóng tiêu tán vào tiêu dùng trước mắt, để rồi lại bị cuốn vào vòng xoáy ly hương mới.

Ký sự La Lay – Bài cuối: Sinh kế tại chỗ và “Hành trang làm cha mẹ từ xa” - Ảnh 3.

Tổ hợp tác Dệt thổ cẩm A Bung được Hội LHPN tỉnh Quảng Trị phối hợp Tổ chức Plan International đầu tư cho thấy hiệu quả của các mô hình kinh tế phát huy giá trị văn hóa và nông nghiệp bản địa. Ảnh: T.T

Trước thực tế đó, cần phải nhìn nhận nguồn nhân lực hồi hương với tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động và số vốn tích lũy là nguồn tài nguyên quý giá của địa phương. Do đó, cấp ủy, chính quyền cơ sở cần kịp thời kết nối, khuyến khích họ tiên phong khởi nghiệp, mở cơ sở dịch vụ hoặc dẫn dắt các hợp tác xã kiểu mới. Chỉ khi người đi xa trở về có thể an cư, lập nghiệp vững vàng trên mảnh đất quê hương, vòng lặp luẩn quẩn của đói nghèo và những cuộc chia cách gia đình mới thực sự đi vào hồi kết.

Đứng trên đỉnh dốc La Lay nhìn xuống những nếp nhà sàn bảng lảng khói lam chiều, nghe tiếng học trò tan trường ríu rít bên dòng suối Đakrông, chúng tôi càng thấm thía: khát vọng mưu sinh để thoát nghèo của đồng bào vùng cao là hoàn toàn chính đáng. Nhưng đích đến cuối cùng của mọi chủ trương phát triển vẫn phải là hạnh phúc con người, là sự bình yên hiện hữu trong từng mái nhà và tương lai của mỗi đứa trẻ.

Khi các nghị quyết, chương trình hành động được hiện thực hóa bằng những mô hình sinh kế sát sườn; khi nhà trường, tổ chức Hội và cộng đồng cùng chung tay tạo dựng một "lá chắn" an sinh vững chãi; những chuyến rời bản sẽ không còn là cuộc đánh đổi đầy nước mắt. Và ngày về dưới chân dãy Trường Sơn hùng vĩ sẽ thực sự là ngày sum vầy trọn vẹn, để tuổi thơ của những đứa trẻ vùng biên được nâng niu trọn vẹn giữa tình thương của mẹ cha và hơi ấm của bản làng.

Ý kiến của bạn
Bình luận