Xem thêm thông tin của Báo PNVN trên
Phụ nữ Việt Nam
MỚI NHẤT ĐỘC QUYỀN MULTIMEDIA CHUYÊN ĐỀ
24/04/2026 - 14:16 (GMT+7)

Lồng ghép giới trong Kế hoạch quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu: Từ chính sách đến hành động bền vững

An Nhi
Lồng ghép giới trong Kế hoạch quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu: Từ chính sách đến hành động bền vững

Bà Trần Thị Thanh Nga, Trưởng Phòng Thích ứng biến đổi khí hậu, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, chia sẻ tại Hội thảo "Thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ Việt Nam trong chính sách khí hậu và môi trường"

Trong khuôn khổ Hội thảo "Thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ Việt Nam trong chính sách khí hậu và môi trường", bà Trần Thị Thanh Nga, Trưởng Phòng Thích ứng biến đổi khí hậu, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cho rằng việc thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ không đơn thuần là mục tiêu công bằng xã hội mà là một yêu cầu kỹ thuật tất yếu để đảm bảo tính thực tiễn và bền vững của mọi giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu.

Trước những thử thách khắc nghiệt nhất của kỷ nguyên biến đổi khí hậu (BĐKH), Kế hoạch quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu (NAP) giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050 của Việt Nam là chiến lược chiến lược nhằm nâng cao năng lực chống chịu, giảm thiểu tổn thất do thiên tai, và bảo đảm sinh kế bền vững trước tác động của BĐKH. 

Lồng ghép bình đẳng giới: Từ nhóm dễ bị tổn thương đến chủ thể thích ứng 

Theo bà Trần Thị Thanh Nga, Trưởng Phòng Thích ứng biến đổi khí hậu, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, một trong những khía cạnh mang tính đột phá của NAP chính là việc xác lập vị thế của phụ nữ trong công tác ứng phó BĐKH. Thay vì chỉ nhìn nhận phụ nữ như một nhóm đối tượng yếu thế cần được bảo vệ, các chính sách hiện đại đang dần chuyển hướng coi họ là những chủ thể năng động, có vai trò quyết định trong việc triển khai các giải pháp thích ứng tại cộng đồng. 

Trong thời gian vừa qua, NAP đã tăng cường phát triển, đào tạo cho lao động nữ theo hướng thích ứng với BĐKH. Các Hội LHPN và chính quyền các cấp đã tăng cường việc hỗ trợ phụ nữ tăng cường khả năng chống chịu khí hậu thông qua đào tạo và cơ hội học tập, tìm kiếm việc làm. Các dự án thích ứng nông nghiệp ở Tây Nguyên và Duyên hải Nam Trung Bộ do UNDP tài trợ đã hỗ trợ các hộ phụ thuộc kinh tế vào phụ nữ biết cách quản lý rủi ro khí hậu thông qua bảo đảm nước tưới, áp dụng thực hành nông nghiệp chống chịu, tăng tiếp cận thông tin khí hậu nông nghiệp, tín dụng và thị trường. Thông qua UN Women, 65 nữ doanh nhân tại Việt Nam đã được tập huấn về tăng trưởng xanh.

Lồng ghép giới trong Kế hoạch quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu: Từ chính sách đến hành động bền vững- Ảnh 1.

Các đại biểu tham dự Hội thảo "Thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ Việt Nam trong chính sách khí hậu và môi trường"

Thực tế cho thấy, phụ nữ thường là những người trực tiếp quản lý tài nguyên hộ gia đình và có tri thức bản địa sâu sắc về môi trường xung quanh. Chính vì vậy, việc lồng ghép giới vào NAP không chỉ là yêu cầu về mặt công bằng xã hội mà còn là một chiến lược thực dụng nhằm tối ưu hóa hiệu quả của các dự án thích ứng.

Những thiếu hụt về nguồn lực và rào cản trong triển khai thực tế

Dù đã đạt được nhiều thành quả, tiến trình thực hiện NAP vẫn đang đối mặt với những lỗ hổng đáng kể về mặt nguồn lực và kỹ thuật. Trưởng Phòng Thích ứng biến đổi khí hậu, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho rằng, hiện nay, các giải pháp thích ứng tại Việt Nam phần lớn vẫn tập trung vào các công trình cứng, trong khi các giải pháp mềm như quy hoạch đô thị nhạy cảm khí hậu hay trồng rừng ngập mặn chắn sóng tuy đã được quan tâm nhưng chưa được triển khai một cách đồng bộ và hiệu quả. Hạ tầng thích ứng hiện tại còn rời rạc, thiếu tính liên kết ngành và liên vùng, dẫn đến việc tối ưu hóa lợi ích từ các dự án còn hạn chế.

Bên cạnh đó, thách thức về tài chính là một rào cản khổng lồ khi nhu cầu vốn cho thích ứng đến năm 2030 ước tính cần từ 54,99 đến 91,65 tỷ USD, vượt quá khả năng đáp ứng của ngân sách nhà nước. Trong khi đó, các cơ chế chính sách cụ thể để thu hút khu vực tư nhân và doanh nghiệp tham gia đầu tư vào các hoạt động thích ứng vẫn chưa thực sự rõ ràng, khiến cơ hội tiếp cận nguồn vốn tín dụng ưu đãi bị bó hẹp. 

Lồng ghép giới trong Kế hoạch quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu: Từ chính sách đến hành động bền vững- Ảnh 2.

Nhiều lao động nữ đã được đào tạo theo hướng thích ứng với BĐKH. Ảnh minh họa

Về mặt con người, Việt Nam đang thiếu hụt trầm trọng đội ngũ chuyên gia và cán bộ kỹ thuật chuyên sâu về BĐKH, đồng thời năng lực dự báo đối với các hiện tượng cực đoan trong phạm vi hẹp như lũ quét hay sạt lở đất vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế. Những thiếu hụt này, kết hợp với việc nhận thức của cộng đồng ở một số vùng sâu vùng xa còn hạn chế, đã tạo ra một "khoảng cách" giữa mục tiêu chính sách và hiệu quả thực thi.

Bên cạnh đó, nhận thức về giới trong thích ứng với BĐKH còn chưa đầy đủ, nhiều nơi vẫn nhìn phụ nữ chủ yếu như nhóm dễ bị tổn thương hơn là chủ thể của thích ứng. Việc lồng ghép giới vào chiến lược, kế hoạch và dự án thích ứng còn chưa đồng đều giữa các bộ, ngành, lĩnh vực và địa phương; thiếu dữ liệu phân tách theo giới và thiếu hệ thống theo dõi, giám sát nhạy cảm giới

Định hướng giải pháp và tầm nhìn thích ứng bền vững

Để giải quyết các thách thức nêu trên, bà Trần Thị Thanh Nga cho rằng việc xây dựng và hoàn thiện các hướng dẫn kỹ thuật về lồng ghép giới cho từng lĩnh vực ưu tiên là nhiệm vụ cấp bách. Các quy định pháp lý cần yêu cầu rõ ràng việc đánh giá tác động giới và xác lập các chỉ tiêu kết quả có phân tách giới trong quá trình xây dựng, thẩm định các dự án thích ứng. Ngoài ra, cần ưu tiên các chương trình sinh kế thích ứng cho các nhóm hộ phụ thuộc nhiều vào lao động nữ, giúp họ nâng cao khả năng chống chịu thông qua việc tiếp cận công nghệ và bảo hiểm nông nghiệp.

Lồng ghép giới trong Kế hoạch quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu: Từ chính sách đến hành động bền vững- Ảnh 3.
Lồng ghép giới trong Kế hoạch quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu: Từ chính sách đến hành động bền vững- Ảnh 4.

Hội LHPN thành phố Đà Nẵng tổ chức lớp tập huấn “Nâng cao năng lực về lồng ghép giới vào công tác lập kế hoạch phòng, chống thiên tai” cho cán bộ phụ nữ hội các cấp và sở, ngành liên quan. Ảnh: Ngọc Hà

Bên cạnh đó, vấn đề truyền thông và bồi dưỡng nhận thức cho cán bộ các cấp cần được chú trọng để coi bình đẳng giới là nội dung cốt lõi của mọi hành động khí hậu. Việt Nam đang hướng tới việc chuẩn hóa các yêu cầu thu thập dữ liệu giới trong hệ thống báo cáo ngành và địa phương, tạo tiền đề cho việc xây dựng cơ sở dữ liệu về phụ nữ ở các nhóm đặc thù như dân tộc thiểu số hay hộ do phụ nữ làm chủ.

Song song với đó, các hoạt động hỗ trợ "nhạy cảm giới" như cung cấp tín dụng xanh, đào tạo kỹ năng sử dụng công nghệ và hỗ trợ tiếp cận thông tin cảnh báo sớm đang được thiết kế riêng để phù hợp với nhu cầu và điều kiện của phụ nữ. Tầm nhìn đến năm 2050 của Việt Nam đặt ra mục tiêu bảo đảm an ninh lương thực, năng lượng và công bằng xã hội trong bối cảnh biến đổi khí hậu phức tạp. Điều này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành và sự tham gia tích cực của cộng đồng quốc tế thông qua các cơ chế như Đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng (JETP). Việc tận dụng các cơ hội từ BĐKH để chuyển đổi mô hình kinh tế xanh, gắn liền với bảo đảm an sinh xã hội và bình đẳng giới, sẽ là chìa khóa để Việt Nam không chỉ thích ứng mà còn phát triển thịnh vượng trong kỷ nguyên mới. 

Lộ trình thực hiện NAP giai đoạn 2021-2030 theo Quyết định 1055/QĐ-TTg đánh dấu bước chuyển mình trong tư duy của Đảng Nhà nước với công tác bảo vệ môi trường, thích ứng với BĐKH, từ ứng phó bị động sang chủ động phòng ngừa, kiểm soát và phục hồi hệ sinh thái.

Việt Nam đã đạt được những con số ấn tượng trong phát triển năng lượng tái tạo với tổng công suất lắp đặt lên tới 47.824 MW, chiếm hơn phân nửa công suất hệ thống điện quốc gia. Bên cạnh đó, tỷ lệ che phủ rừng được duy trì ổn định ở mức 42,03% vào cuối năm 2024 cùng việc triển khai các mô hình nông nghiệp thông minh đã tạo ra nền tảng vững chắc cho công tác thích ứng. Đặc biệt, các thiết chế an toàn như khu tái định cư kiểu mới tại Lào Cai hay nhà văn hóa cộng đồng tránh lũ đã góp phần ổn định đời sống tinh thần và vật chất cho cư dân vùng thiên tai

Với tầm nhìn đến năm 2050, NAP được triển khai qua hai giai đoạn trọng tâm. Giai đoạn 2021-2025 đóng vai trò "xây móng", tập trung hoàn thiện thể chế, cụ thể hóa các quy định pháp luật và bắt buộc lồng ghép nội dung thích ứng vào quy hoạch các cấp. Trong khi đó, giai đoạn 2026-2030 hướng tới nâng cao năng lực toàn diện, nhân rộng các mô hình thích ứng dựa vào hệ sinh thái và cộng đồng. Việt Nam chú trọng kết hợp hài hòa giữa hạ tầng cứng với các giải pháp mềm như hệ thống cảnh báo sớm, đồng thời tận dụng nguồn lực tài chính xanh từ các đối tác quốc tế.

Ý kiến của bạn
Bình luận
Xem thêm bình luận