Luật sư công: "Lá chắn" pháp lý bảo vệ lợi ích Nhà nước
Luật sư Trần Văn An, Chủ nhiệm lâm thời Đoàn Luật sư tỉnh Bắc Ninh
Bộ Tư pháp vừa chính thức công bố hồ sơ thẩm định dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về việc thực hiện thí điểm chế định Luật sư công. Đây được xem là bước đi mang tính đột phá nhằm hoàn thiện hệ thống bổ trợ tư pháp, giúp các cơ quan Nhà nước tham gia bình đẳng và hiệu quả hơn trong các quan hệ pháp lý, đặc biệt là các tranh chấp quốc tế phức tạp.
Để giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về bản chất và tầm quan trọng của đội ngũ "luật sư của Nhà nước", phóng viên đã có cuộc trao đổi với Luật sư Trần Văn An, Chủ nhiệm lâm thời Đoàn Luật sư tỉnh Bắc Ninh.
Với tư cách là chuyên gia được Bộ Tư pháp mời trực tiếp tham gia quá trình xây dựng và góp ý dự thảo, ông An đã chia sẻ những góc nhìn tâm huyết về lộ trình chuyển dịch từ cơ chế tham mưu nội bộ sang bảo vệ pháp lý chuyên nghiệp, đồng thời lý giải vì sao Bắc Ninh được chọn là "mắt xích" quan trọng trong đợt thí điểm lần này.
PV: Thưa Luật sư, tại sao chúng ta cần một đội ngũ "Luật sư của Nhà nước" riêng biệt khi đã có hệ thống pháp chế và trợ giúp pháp lý?
Luật sư Trần Văn An: Lý do xã hội chúng ta cần một đội ngũ Luật sư công riêng biệt là bởi vì hiện nay đang tồn tại 3 chế định hoàn toàn khác nhau: Pháp chế, trợ giúp pháp lý và luật sư.
Đội ngũ trợ giúp pháp lý thực hiện chính sách của Nhà nước để bảo vệ các nhóm yếu thế, đối tượng chính sách - tức là phục vụ xã hội, phục vụ các chủ thể, nhóm chủ thể thông qua việc sử dụng kinh phí và nguồn lực công không phải bảo vệ lợi ích của Nhà nước. Đội ngũ pháp chế là đội ngũ mang tính chất tham mưu nội bộ, giúp việc và chịu sự chỉ đạo hành chính.
Trong khi đó, Nhà nước - với tư cách là một chủ thể trong các quan hệ pháp luật, đặc biệt là tranh chấp hành chính, đầu tư, thương mại - lại chưa có một đội ngũ luật sư chuyên nghiệp, hoạt động đúng bản chất nghề luật sư để bảo vệ lợi ích công, lợi ích cho cho chính Nhà nước.
Việc xây dựng Luật sư công chính là để chuyển từ cơ chế "tham mưu hành chính" sang cơ chế "bảo vệ pháp lý chuyên nghiệp", với các chuẩn mực về đào tạo, kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm pháp lý cao hơn.
Dự thảo Nghị quyết lần này đã tiếp cận rất đúng khi xác lập các nguyên tắc như độc lập, trung thực, tuân thủ pháp luật và cho phép Luật sư công được bảo lưu ý kiến pháp lý. Đây là bước tiến rất quan trọng trong tư duy quản trị pháp lý của Nhà nước.

Luật sư Trần Văn An giảng dạy pháp luật về Hợp đồng cho cán bộ, lãnh đạo các doanh nghiệp trong Các Khu công nghiệp của tỉnh Bắc Ninh do Sở Tư pháp, Ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh tổ chức năm 2025.
Từ "tham mưu nội bộ" đến bảo vệ pháp lý chuyên nghiệp
PV: Bắc Ninh là địa phương được chọn thí điểm triển khai chế định Luật sư công. Đặc thù kinh tế - xã hội của Bắc Ninh đặt ra yêu cầu gì đối với Luật sư công?
Luật sư Trần Văn An: Bắc Ninh là tỉnh có tốc độ phát triển kính tế rất nhanh, mạnh, với mức độ hội nhập quốc tế rất cao, đặc biệt trong lĩnh vực đầu tư và công nghiệp. Việc Bắc Ninh được lựa chọn làm một trong các tỉnh thí điểm thực hiện chế định Luật sư công là sự lựa chọn có chủ đích, cân nhắc tính toán kỹ lưỡng của cấp có thẩm quyền.
Với đặc trưng là khu trung tâm công nghiệp, tốc độ phát triển cao, mức độ hội nhập quốc tế của tỉnh rất sâu, rộng, yêu cầu đặt ra là Nhà nước và chính quyền tỉnh Bắc Ninh không chỉ vận hành theo pháp luật trong nước, mà phải có khả năng thích ứng với pháp luật quốc tế ngay trong tư duy quản lý điều hành, tổ chức triển khai thực hiện công việc; từ quá trình xây dựng chính sách, tổ chức thực thi và giải quyết tranh chấp. Thực tế cho thấy, trong quá trình phát triển sẽ phát sinh các tranh chấp quốc tế, các vụ án hành chính, các vấn đề đất đai, khiếu nại tố cáo phức tạp. Khi đó, Nhà nước buộc phải tham gia "cuộc chơi pháp lý" với các chủ thể trong và ngoài nước, thậm chí với các hãng luật quốc tế.
Do đó, cần một đội ngũ Luật sư công có khả năng đáp ứng yêu cầu để: tham gia tố tụng trong nước và quốc tế; tư vấn pháp lý cho các dự án lớn (bao gồm cả dự án đầu tư công và dự án vốn doanh nghiệp và vốn đầu tư FDI); xử lý các vụ việc phức tạp, kéo dài; tham gia tranh chấp trong nước và quốc tế.
Tôi kỳ vọng sau giai đoạn thí điểm, mô hình này sẽ góp phần nâng cao chất lượng quản trị pháp lý, cải thiện môi trường đầu tư và phát triển bền vững tại địa phương.
PV: Dự thảo cho phép Luật sư công được bảo lưu ý kiến và từ chối chỉ đạo trái pháp luật. Cơ chế nào đảm bảo điều này?
Luật sư Trần Văn An: Theo tôi, đây là một trong những điểm rất tiến bộ và là xương sống bảo đảm chế định Luật sư công thực sự phát huy hiện quả trong thực tiễn.
Luật sư công hoạt động trên 3 nền tảng: tuân thủ pháp luật, tuân thủ đạo đức nghề nghiệp luật sư và thực hiện nhiệm vụ trong cơ quan nhà nước. Trong đó, đạo đức nghề luật sư yêu cầu phải từ chối những yêu cầu trái pháp luật, bất kể chủ thể đưa ra là ai.

Trong các vụ việc phức tạp cần có cơ chế phối hợp giữa nhiều Luật sư công hoặc giữa Luật sư công và Luật sư tư để bảo đảm tính khách quan và giảm áp lực cá nhân của Luật sư công. Ảnh minh họa
Việc đưa quy định này vào Nghị quyết không chỉ mang tính nguyên tắc mà còn tạo cơ sở pháp lý để: bảo vệ Luật sư công trước áp lực hành chính; ngăn ngừa việc lạm dụng mệnh lệnh hành chính làm biến dạng bản chất hoạt động luật sư công, làm giảm đính hiệu quả của chế định; khẳng định tính độc lập nghề nghiệp của luật sư công.
Tuy nhiên, trên thực tế đây là vấn đề rất khó, vì Luật sư công vẫn chịu sự quản lý của cơ quan và người đứng đầu cơ quan. Do đó, theo tôi cần tiếp tục hoàn thiện thể chế hóa, cụ thể hóa các nội dung.
Điều kiện kiện nào luật sư công buộc phải từ chối và được từ chối chỉ đạo của cơ quan quản lý hành chính hoặc người đứng đầu khi thực hiện nhiệm vụ của luật sư công; Trình tự thủ tục, các bước để Luật sư công thực hiện từ chối và được miễn trừ trách nhiệm hành chính.
Trách nhiệm của người ra chỉ đạo về nội dung công việc đối với Luật sư công, trình tự thủ tục chỉ đạo và trách nhiệm kiểm tra, giám sát, hậu kiểm đối với các chỉ đạo này. Cơ chế bảo vệ Luật sư công trong việc đưa ra quan điểm, đề xuất, thực thi nhiệm vụ.
Ngoài ra, trong các vụ việc phức tạp cần có cơ chế phối hợp giữa nhiều Luật sư công hoặc giữa Luật sư công và Luật sư tư để bảo đảm tính khách quan và giảm áp lực cá nhân của Luật sư công.

Dự thảo Nghị quyết hiện cũng đã quy định cơ chế phối hợp giữa Luật sư công và Luật sư tư. Ảnh minh họa
Phối hợp Luật sư công - tư để bảo vệ lợi ích quốc gia
PV: Luật sư công sẽ đối mặt thế nào với các hãng luật quốc tế?
Luật sư Trần Văn An: Tham gia cuộc chơi pháp lý quốc tế với vai trò là luật sư là thách thức rất lớn, không chỉ với Luật sư công mà với cả đội ngũ luật sư Việt Nam hiện nay.
Những khó khăn, hạn chế chủ yếu Luật sư công phải đương đầu với luật sư quốc tế, với các hãng luật lớn của quốc tế có thể chỉ ngay ra như: Kinh nghiệm tranh tụng quốc tế còn hạn chế; hạn chế về ngoại ngữ đặc biệt ngôn ngữ quốc tế trong tranh tụng; khoảng cách về kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp luật sư và nguồn lực bao gồm cả nhân lực, tài chính, thời gian.
Trong khi đó, lợi ích quốc gia không cho phép chúng ta thử nghiệm và trong tranh tụng quốc tế không cho phép chúng ta thua kiện, thử nghiệm nghề nghiệp. Do vậy, theo tôi, trước mắt giải pháp phù hợp là không để Luật sư công hoạt động đơn lẻ mà phải kết hợp với Luật sư (nhà nước thuê Luật sư để cùng tham gia bảo vệ), kể cả thuê các hãng luật trong nước và quốc tế.
Khi Luật sư công cùng Luật sư được nhà nước thuê tham gia bảo vệ trong các vụ án quốc tế, Luật sư công giữ vai trò định hướng, điều phối, bảo vệ lợi ích Nhà nước. Luật sư được thuê sẽ thực hiện các kỹ năng chuyên sâu, nghiệp vụ cụ thể.
Dự thảo Nghị quyết hiện cũng đã quy định cơ chế phối hợp giữa Luật sư công và Luật sư tư. Về lâu dài, thông qua thực tiễn, đội ngũ Luật sư công sẽ tích lũy kinh nghiệm và nâng cao năng lực.
PV: Việc hình thành đội ngũ này có cạnh tranh với luật sư tư không? Cơ chế phối hợp nên như thế nào?
Luật sư Trần Văn An: Tôi cho rằng không có sự cạnh tranh giữa Luật sư hiện nay và Luật sư công mà đây là quan hệ bổ trợ, cùng phát triển, cùng bảo vệ lợi ích quốc gia dân, tộc lợi ích Nhân dân.
Luật sư công bảo vệ lợi ích Nhà nước, còn Luật sư tư phục vụ khách hàng xã hội trong đó có cả nhà nước. Hai hệ thống này mặc dù cùng là luật sư nhưng có tính chất hoạt động tương đối khác nhau và sẽ cần phối hợp trong nhiều vụ việc.
Thực tế, chế định luật sư công sẽ làm tăng nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý, từ đó tạo thêm cơ hội cho Luật sư tư và nâng cao vị thế nghề luật sư khi dự thảo nghị quyết đã quy định và tạo cơ chế nhà nước thuê luật sư để bảo vệ lợi ích công. Mặt khác, khi người dân thấy nhà nước cũng cần phải sử dụng luật sư thì nhu cầu sử dụng dịch vụ luật sư của người dân sẽ tăng đáng kể vì vai trò, vị trí nghề luật sư được khẳng định.
Từ thực tiễn và các nội dung trong dự thảo, theo tôi cần thiết kế cơ chế phối hợp linh hoạt để huy động, sử dụng nguồn lực đội ngũ luật sư hiện nay để bảo vệ lợi ích công, gồm:
Cơ quan Nhà nước ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với tổ chức hành nghề luật sư để thực hiện vụ việc hoặc tư vấn dài hạn, tư vấn theo vụ việc với cơ chế thù lao rõ ràng, tương xứng.
Có cơ chế giới thiệu, chỉ định luật sư trong các trường hợp cần thiết, để không lệ thuộc vào quy định đấu thầu, chỉ định thầu bảo đảm thu hút kịp thời các luật sư giỏi cung cấp dịch vụ pháp lý cho nhà nước
Kết hợp Luật sư công và Luật sư tư trong cùng một vụ việc, đặc biệt với các vụ việc phức tạp, các tranh chấp quốc tế.
Xây dựng chính sách tài chính, thù lao và ưu đãi để thu hút luật sư có năng lực tham gia.
Đồng thời, cần tăng cường phối hợp giữa cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư trong đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao chất lượng dịch vụ của luật sư khi bảo vệ nhà nước kể cả trường hợp luật sư công và luật sư.
Tôi cho rằng việc xây dựng, thực thi chế định Luật sư công không chỉ là bổ sung một chức danh mới trong bộ máy Nhà nước, mà còn là bước chuyển quan trọng về tư duy quản trị pháp lý: Từ mô hình tham mưu nội bộ sang cơ chế bảo vệ lợi ích công bằng chuẩn mực nghề luật sư, nếu triển khai đúng hướng, đây sẽ là động lực nâng tầm cả hệ thống pháp lý và nghề luật sư tại Việt Nam.
PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!