"Người trẻ bỏ tiền triệu để mua vé xem show, nhưng ngại ngần chi 50 nghìn mua sách"
Ảnh minh họa
Đó là câu hỏi của GS. Phong Lê, gợi lên nhiều suy ngẫm về thực trạng văn hóa đọc và đời sống phê bình văn học hiện nay.
Nỗi lo "khủng hoảng kép" trong phê bình văn học Việt
Tiến sĩ Vũ Thị Thu Hà (Viện Văn học) cho biết, sau năm 1986, tư duy và phương pháp nghiên cứu văn học Việt Nam có nhiều chuyển biến sâu sắc. Lý luận, phê bình văn học tiếp thu nhiều thành tựu quốc tế, mở ra các hướng tiếp cận đa dạng như ký hiệu học, tự sự học, phân tâm học, mỹ học tiếp nhận, nghiên cứu văn hóa và xã hội học văn học… Tuy nhiên, hoạt động phê bình vẫn còn hạn chế như thiếu công trình mang tính hệ thống, ranh giới giữa nghiên cứu và phê bình báo chí chưa rõ, việc vận dụng lý thuyết mới còn yếu…
TS. Hà Thanh Vân (Trung tâm Xúc tiến Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam) cho rằng, phê bình văn học không chỉ dừng ở việc khen hay chê mà cần giúp công chúng hiểu sâu hơn bản chất sáng tạo, định hướng giá trị thẩm mỹ và nhân văn của tác phẩm. Phê bình văn học nên mở rộng kết nối với điện ảnh, âm nhạc, thời trang, truyền thông để tạo không gian đối thoại gần gũi, đa chiều giữa phê bình, công chúng và sáng tạo. Theo bà, trong thời đại số, lý luận và phê bình chịu tác động mạnh mẽ nhưng cũng có cơ hội đổi mới phương pháp, mở diễn đàn học thuật trực tuyến, tăng cường hợp tác quốc tế, giúp phê bình Việt Nam tiệm cận đời sống học thuật khu vực và thế giới.
TS. Hà Thanh Vân cảnh báo, đời sống phê bình hiện nay đang rơi vào "khủng hoảng kép": Khủng hoảng uy tín và khủng hoảng đạo đức nghề nghiệp. Bà cho rằng, tiếng nói của phê bình học thuật đang dần mất ảnh hưởng trước công chúng, bị lấn át bởi mạng xã hội, nơi xuất hiện ngày càng nhiều "phê bình PR", "phê bình bè phái" hay "PR trá hình".

TS. Hà Thanh Vân
"Đạo đức nghề nghiệp trở thành vấn đề sống còn của cả người viết và người đọc. Người phê bình cần tránh 2 thái cực: Một là "phê bình PR" khiến mất tính khách quan; hai là "phê bình công kích" làm tổn thương nhân văn. Phê bình đúng nghĩa phải là phê bình kiến tạo, góp phần hoàn thiện tác phẩm và nâng cao thẩm mỹ cho công chúng", TS. Hà Thanh Vân nhấn mạnh.
Để vượt qua khủng hoảng, theo TS. Hà Thanh Vân, cần tái định vị vai trò của phê bình theo 3 hướng: Từ phán xét sang đối thoại, giúp công chúng hiểu sâu hơn về sáng tạo; từ đóng kín sang liên ngành, mở rộng sang điện ảnh, âm nhạc, nghệ thuật thị giác, truyền thông; từ độc quyền sang chia sẻ, khuyến khích công chúng tham gia trên nền tảng tri thức và đạo đức nghề nghiệp.
Văn hóa đọc đang bị thu hẹp
Tại Hội thảo khoa học "Lý luận, phê bình văn học Việt Nam từ Đổi mới 1986 đến nay: Thực trạng và định hướng phát triển", GS. Phong Lê đặt ra một câu hỏi khiến nhiều người trăn trở: "Cái in ra thì nhiều, nhưng đến được với bạn đọc là bao nhiêu?". Trong khi đời sống sáng tác vẫn rất nhộn nhịp, mỗi năm có hàng loạt cuộc thi, hàng nghìn đầu sách, thơ, truyện, tiểu luận được xuất bản, nhưng lượng người đọc lại ngày càng thu hẹp.
Theo GS. Phong Lê, văn học đang "lép vế" so với các lĩnh vực nghệ thuật khác như hội họa, âm nhạc, điện ảnh. Mỗi đầu sách hiện nay chỉ in 300, 500, nhiều lắm cũng 2.000 bản, nhưng vẫn khó bán. "Ngoại trừ một số ít được quảng bá tốt, đa phần sách ra đời rồi… nằm im trên kệ", ông nói.

Giáo sư Phong Lê
Nỗi buồn càng rõ hơn khi GS. Phong Lê so sánh: "Các bạn trẻ sẵn sàng bỏ tiền triệu để mua vé xem các "ngôi sao" biểu diễn, nhưng lại ngại ngần khi bỏ ra 50 nghìn để mua một cuốn sách".
Nếu trong thời chiến, mỗi cuốn sách ở miền Bắc có thể in hàng vạn bản, thì nay chỉ cần 1.000 bản cho hơn 100 triệu dân đã được xem là "ổn định". Văn hóa đọc, theo GS. Phong Lê, đang bị cạnh tranh khốc liệt bởi văn hóa nghe nhìn và văn hóa mạng.
"Con người đang từ bỏ bút sắt, bút bi để gõ bàn phím, sống trong "thế giới phẳng" nơi mọi thông tin được nạp tức thì. Cứ nghĩ như vậy để thấy bình tâm trước sự thu hẹp của văn hóa phê bình theo nghĩa cổ điển", GS. Phong Lê nói.
GS. Phong Lê cho rằng, không phải vì văn học thiếu người tài hay phê bình yếu đi, mà bởi cơ chế tiếp cận công chúng đã thay đổi. Các nhà văn trẻ, đặc biệt thế hệ 7X, 8X, 9X, có thể quảng bá tác phẩm của mình qua mạng xã hội, không cần chờ giới phê bình "mở lời". Khi tên tuổi đã trở thành thương hiệu, sức lan tỏa của họ không còn phụ thuộc vào những bài phê bình chuyên nghiệp.
"Có lẽ, nếu phê bình không còn giữ vai trò như trước đây, thì nó phải tự biến đổi để thích nghi. Phê bình bây giờ nên là cuộc giao hảo tri kỷ giữa người viết và người đọc, như mối tri âm Bá Nha - Tử Kỳ thời hiện đại", GS. Phong Lê nói.
Từ những trăn trở ấy, có thể thấy rằng văn học Việt Nam hôm nay không thiếu sáng tác, nhưng đang rất cần một không gian phê bình trung thực, chuyên nghiệp và nhân văn. Và trên hết, cần khơi lại tình yêu với văn hóa đọc, để mỗi cuốn sách thực sự đến được với người đọc, chứ không chỉ dừng lại ở những con số in ấn.
Trước bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc đánh giá thực trạng, nguyên nhân, bài học và định hướng phát triển của phê bình văn học là nhiệm vụ quan trọng, góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng các văn kiện Đại hội XIV của Đảng.