Nhớ bữa cơm mắm cà của mẹ
Hình minh họa
Ngược dòng ký ức trở về những năm 80 của thế kỷ trước, điều còn đọng lại sâu sắc nhất trong tôi không phải là manh áo mới mỗi dịp Tết đến, mà là mâm cơm gia đình dưới ánh đèn dầu leo lét ở miền quê nghèo Lập Thạch (nay thuộc xã Hợp Lý, tỉnh Phú Thọ).
Quê tôi ngày ấy rất nghèo. Bố mẹ là những người nông dân quanh năm "bán mặt cho đất, bán lưng cho trời". Mẹ mỗi ngày luôn là người lo bữa cơm, nhóm bếp rồi lặng lẽ nhường phần ngon nhất cho chồng con. Đến bây giờ, tôi vẫn nhớ đôi bàn tay gầy guộc, rám nắng của mẹ thoăn thoắt xới cơm, gắp từng quả cà, từng miếng cá mắm cho các con.

Mâm cơm ngày ấy chẳng có gì ngoài bát nước rau muống luộc dầm sấu, đĩa cá mắm hoặc cá thính và hũ cà pháo muối
Mâm cơm ngày ấy chẳng có gì ngoài bát nước rau muống luộc dầm sấu, đĩa cá mắm hoặc cá thính và hũ cà pháo muối. Cơm trắng hiếm lắm. Nồi cơm thường độn khoai, ngô hoặc sắn, thứ mà người lớn quê tôi vẫn đùa là "cơm trứng xào". Vậy mà cả nhà vẫn quây quần bên chiếc mâm gỗ cũ, trên những chiếc ghế đôn thấp, nghe bố kể chuyện, mẹ nhắc anh em tôi ăn nhiều cho chóng lớn.
Tôi nhớ những buổi chiều đi chăn trâu cắt cỏ về, bụng đói cồn cào. Chỉ cần bát cơm độn ăn với quả cà pháo muối hay khúc cá mắm cũng thấy ngon đến lạ. Trong bữa cơm, bố thường gắp phần ngon nhất cho anh em tôi rồi căn dặn: "Nhà mình nghèo, vùng đất này còn nhiều sỏi đá, nhưng cái chí của con người không được để sỏi đá vùi lấp. Các con phải học để sau này đỡ cực hơn bố mẹ."
Lời dặn ấy theo tôi suốt những năm tháng trưởng thành. Cũng chính sự tần tảo của mẹ, sự nhọc nhằn của bố và những bữa cơm đạm bạc đã dạy tôi biết quý từng hạt gạo, biết yêu lao động và không cho phép mình lười biếng. Tôi học tập bằng tất cả quyết tâm như một cách báo đáp công ơn sinh thành.
Năm 19 tuổi, tôi nhập học Học viện Biên phòng. Những ngày đầu trong quân ngũ, thao trường nắng gắt hay kỷ luật nghiêm khắc không làm tôi chùn bước. So với những năm tháng cơm độn khoai, ngô, sắn và cuộc sống lam lũ của bố mẹ, mọi gian khó ấy dường như nhỏ bé hơn rất nhiều.
Tôi chọn trở thành người lính Biên phòng cũng bởi những câu chuyện bố kể bên mâm cơm, những đêm cả nhà ngồi dưới sân hè nghe bố nhắc về những năm tháng chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam. Những câu chuyện ấy đã gieo trong tôi ước mơ được khoác lên mình màu xanh áo lính.
Nhiều năm công tác nơi biên cương, mỗi lần đến với đồng bào các dân tộc, ngồi bên bếp lửa cùng bà con dùng bữa cơm giản dị với bát rau, quả cà muối, cá khô, tôi lại thấy thấp thoáng hình ảnh gia đình mình năm xưa. Tôi hiểu hơn những nhọc nhằn của người dân vùng cao, càng thấm thía phương châm của Bộ đội Biên phòng: "Đồn là nhà, biên giới là quê hương, đồng bào các dân tộc là anh em ruột thịt."
Có lẽ chính vì gia đình tôi từng đi qua những tháng ngày thiếu thốn, nên tôi dễ đồng cảm với cuộc sống của bà con nơi biên giới. Mỗi bữa cơm cùng dân bản không chỉ là bữa ăn mà còn là sự sẻ chia, là động lực để tôi gắn bó với biên cương, cùng đồng đội giúp nhân dân phát triển kinh tế, giữ gìn cuộc sống bình yên và bảo vệ vững chắc chủ quyền Tổ quốc.

Đồng chí Lê Bá Khánh Trình (thứ 2 từ phải qua) cùng cán bộ, chiến sĩ Biên phòng tỉnh Tuyên Quang hướng dẫn người dân phát triển kinh tế gia đình.
Mỗi lần hoàn thành nhiệm vụ trở về đơn vị, hay mỗi đêm tuần tra giữa núi rừng biên giới, trong tôi lại hiện lên hình ảnh mẹ bên bếp lửa, mâm cơm nghèo với hũ mắm cà thân thuộc. Chính bữa cơm giản dị ấy đã nuôi lớn tuổi thơ tôi, nuôi dưỡng ý chí của người lính Biên phòng hôm nay.
Giờ đây cuộc sống đã đủ đầy hơn, mâm cơm gia đình mỗi dịp tôi về phép cũng có nhiều món ngon hơn ngày trước. Nhưng với tôi, không hương vị nào đậm sâu bằng vị mắm cà của mẹ. Đó là hương vị của tình mẫu tử, của sự hy sinh thầm lặng, của những tháng năm gian khó đã dạy tôi biết sống có trách nhiệm, biết yêu thương con người và giữ trọn lời thề của người chiến sĩ Bộ đội Biên phòng đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân.