Những văn bản chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong tháng 2/2026
Chính phủ đã ban hành cơ chế xử lý khó khăn, vướng mắc trong phát triển nhà ở xã hội. Ảnh minh họa
Cùng nhìn lại một số văn bản chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong tháng 2/2026.
- Thủ tướng Chính phủ đôn đốc thực hiện nhiệm vụ phục vụ Nhân dân đón Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký Công điện số 07/CĐ-TTg ngày 1/2/2026 về việc đôn đốc triển khai thực hiện nhiệm vụ phục vụ Nhân dân đón Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026.
Công điện gửi Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương yêu cầu chuẩn bị đầy đủ nguồn hàng thiết yếu, không để xảy ra tình trạng thiếu hàng; giải quyết tốt việc lưu thông hàng hóa qua các cửa khẩu, tuyệt đối không để ách hàng hóa; chi trả gộp 2 tháng lương hưu tháng 2 và tháng 3/2026; đôn đốc doanh nghiệp chi trả đầy đủ lương, thưởng Tết cho người lao động; thăm hỏi, động viên, chúc Tết cán bộ lão thành cách mạng, Mẹ Việt Nam Anh hùng, gia đình có công với cách mạng…
- Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo tăng cường phương tiện vận tải dịp Tết, không để xảy ra hiện tượng chèn ép giá
Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà ký ban hành Công điện 10/CĐ-TTg ngày 4/2/2026 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác tổ chức vận tải bảo đảm trật tự, an toàn giao thông dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ và mùa Lễ hội xuân năm 2026.
Trong Công điện, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, cơ quan, đơn vị theo chức năng nhiệm vụ được giao tăng cường phương tiện vận tải phục vụ nhu cầu đi lại của Nhân dân, nhất là vận tải hành khách công cộng để kết nối và hỗ trợ hành khách đi lại thuận tiện tại ga đường sắt, cảng hàng không, bến xe, bến tàu, tuyệt đối không để hành khách chậm về quê đón Tết do không có phương tiện vận chuyển; không để xảy ra hiện tượng chèn ép giá, lợi dụng tăng giá không đúng quy định, phòng ngừa tai nạn giao thông dịp Tết Nguyên đán và mùa Lễ hội xuân năm 2026.
Bộ Công an chỉ đạo tăng cường lực lượng, phương tiện tuần tra, kiểm soát, kiểm tra an toàn giao thông tuyến đường bộ cao tốc, đường giao thông địa phương, các phương tiện vận tải hành khách như xe ô tô khách có giường nằm hai tầng; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trật tự an toàn giao thông, tập trung quyết liệt xử lý những vi phạm là nguyên nhân chính gây tai nạn giao thông, như: vi phạm nồng độ cồn, tốc độ, tải trọng, đi không đúng phần đường, làn đường, đi ngược chiều, dừng, đỗ trái phép, quay đầu xe, tránh, vượt không đúng quy định... kịp thời phát hiện, ngăn chặn các vụ đua xe trái phép, tụ tập gây rối trật tự công cộng...
- Chăm lo, hỗ trợ Nhân dân đón Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 vui tươi, an toàn, tiết kiệm
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký Công điện số 13/CĐ-TTg ngày 09/02/2026 về việc thực hiện nhiệm vụ chăm lo, hỗ trợ Nhân dân đón Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026.
Tại Công điện, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, cơ quan và địa phương chủ động chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân dân, bảo đảm "mọi người, mọi nhà đều có Tết", "không để ai bị bỏ lại phía sau". Tập trung rà soát, nắm chắc tình hình đời sống của nhân dân, người lao động, nhất là đối tượng chính sách, người có hoàn cảnh khó khăn (người nghèo, người yếu thế, người dân ở vùng bị thiệt hại bởi thiên tai, bão, lũ, sạt lở...) để đặc biệt quan tâm, chăm lo, kịp thời hỗ trợ phù hợp, hiệu quả. Theo dõi, đôn đốc doanh nghiệp chi trả đầy đủ lương, thưởng Tết cho công nhân, người lao động.
Tổ chức thăm hỏi, chúc Tết các cán bộ lão thành, Mẹ Việt Nam Anh hùng, gia đình chính sách, người nghèo và người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, bảo đảm tặng quà đúng đối tượng, đầy đủ chế độ, công khai, minh bạch.
Chỉ đạo các doanh nghiệp, chủ đầu tư, nhà thầu thi công các công trình, dự án (nhất là các công trình trọng điểm quốc gia) có phương án hỗ trợ, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần đầy đủ, chu đáo cho công nhân, người lao động ở lại làm việc trên công trường trong dịp Tết Nguyên đán, bảo đảm kịp thời, thiết thực...
- Thủ tướng Chính phủ đôn đốc thực hiện nhiệm vụ trọng tâm sau Tết nguyên đán Bính Ngọ 2026
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký Chỉ thị số 06/CT-TTg về việc đôn đốc thực hiện nhiệm vụ trọng tâm sau kỳ nghỉ Tết nguyên đán Bính Ngọ năm 2026.
Trong đó, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ ngành, địa phương cần tập trung thực hiện hiệu quả "1 mục tiêu, 2 bảo đảm, 3 có, 4 không, 5 hóa và 6 rõ"; trong đó "1 mục tiêu" xuyên suốt là độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc; "2 bảo đảm" là bảo đảm phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển, bảo đảm an ninh, an toàn, an dân; "3 có" trong đóng góp nguồn lực là có sự tham gia của Nhà nước, có sự tham gia của Nhân dân, có sự tham gia của doanh nghiệp; "4 không" trong tiết kiệm thời gian là không lãng phí một ngày, không chậm trễ một tuần, không bỏ lỡ cơ hội trong một tháng, không để bị động cả năm; "5 hóa" trong phát triển là số hóa, xanh hóa, tối ưu hóa nguồn lực, thông minh hóa quản trị, hài hòa hóa lợi ích của Nhà nước, người dân và doanh nghiệp; "6 rõ" trong phân công nhiệm vụ gồm rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ kết quả.
Theo dõi sát biến động giá cả, thị trường sau Tết, nhất là hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng thiết yếu và các nguyên liệu đầu vào quan trọng phục vụ sản xuất; chủ động, kịp thời có các giải pháp điều tiết cung cầu, bình ổn thị trường, điều tiết sản xuất, không để thiếu hàng, sốt giá. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc kê khai, niêm yết giá, bán đúng giá niêm yết; xử lý nghiêm các hành vi tăng giá bất hợp lý, đưa thêm những khoản thu ngoài giá để thu cao hơn mức giá kê khai, niêm yết; tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính, ngân sách nhà nước; đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công ngay từ đầu năm 2026...
- Nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm điều hành chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa năm 2026
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký Công điện số 12/CĐ-TTg ngày 08/02/2026 về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm điều hành chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa năm 2026.
Công điện yêu cầu Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương liên quan điều hành chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm; khai thác hiệu quả dư địa của chính sách tài khóa để hỗ trợ, phối hợp chặt chẽ, linh hoạt, hiệu quả với chính sách tiền tệ.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả; theo dõi sát diễn biến lạm phát, tỷ giá, lãi suất, thanh khoản… để điều hành các công cụ chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, mềm mại, không "gây sốc", "giật cục", có lộ trình, phù hợp với diễn biến tình hình kinh tế vĩ mô, quy mô nền kinh tế và mục tiêu chính sách tiền tệ; khẩn trương hoàn thiện hồ sơ báo cáo Thường trực Chính phủ về việc nghiên cứu, đánh giá, xem xét đề xuất thành lập sàn/sở giao dịch vàng quốc gia…
- Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo sắp xếp, xử lý, khai thác tài sản công, bảo đảm hiệu quả, tránh lãng phí
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký Công điện số 19/CĐ-TTg ngày 26/2/2026 yêu cầu các bộ ngành, địa phương nâng cao hiệu lực, hiệu quả sắp xếp, xử lý, khai thác tài sản công.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ khẩn trương hoàn thành xử lý, đưa vào khai thác, sử dụng đối với các cơ sở nhà, đất dôi dư sau sắp xếp bộ máy, không để hư hỏng, xuống cấp, lãng phí; đối với các cơ sở nhà, đất dôi dư, khẩn trương hoàn thành việc chuyển giao về địa phương quản lý, xử lý hoặc xử lý theo hình thức khác phù hợp với quy định của pháp luật.
Các địa phương tiếp tục rà soát để ban hành đầy đủ, kịp thời các văn bản theo thẩm quyền để triển khai các văn bản quy phạm pháp luật do trung ương ban hành, đặc biệt là các quy định cụ thể về phân cấp trong quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan, tổ chức, đơn vị, tài sản kết cấu hạ tầng do Nhà nước đầu tư, quản lý, tài sản của các dự án sử dụng vốn nhà nước, tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân...
- Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 29/NQ-CP ngày 24/02/2026 Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Chương trình).
Chương trình yêu cầu các bộ, cơ quan, địa phương và tổ chức liên quan cần cụ thể hóa và quyết liệt tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm sau: Rà soát các văn bản quy phạm pháp luật để kịp thời xử lý, tháo gỡ các điểm nghẽn, nút thắt về thể chế đối với kinh tế nhà nước; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có chính sách hiệu quả nhằm thu hút và trọng dụng nhân tài; chuẩn hoá dữ liệu về nguồn lực kinh tế nhà nước, bảo đảm liên thông, tích hợp, an toàn, an ninh thông tin...
- Quy định tính tiền sử dụng đất khi chuyển mục đích từ đất vườn, đất nông nghiệp sang đất ở
Chính phủ ban hành Nghị định số 50/2026/NĐ-CP ngày 31/1/2026 quy định chi tiết một số điều của Nghị quyết số 254/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất.
Trong đó, Nghị định số 50/2026/NĐ-CP quy định về tính tiền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân khi chuyển mục đích sử dụng đất từ đất vườn, ao, đất nông nghiệp sang đất ở quy định tại điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15:
1. Việc tính tiền sử dụng đất được áp dụng một lần cho một hộ gia đình, cá nhân và được tính trên 01 thửa đất do hộ gia đình, cá nhân lựa chọn; lần chuyển mục đích sau trên thửa đất đó hoặc chuyển mục đích của thửa đất khác thì tính tiền sử dụng đất bằng 100% chênh lệch giữa tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở và tiền sử dụng đất tính theo giá đất nông nghiệp tại thời điểm có quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
2. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân có nhiều thửa đất (kể cả nhiều thửa đất trong phạm vi nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) được phép chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định tại Nghị định này thì hộ gia đình, cá nhân đó được lựa chọn 01 thửa đất để áp dụng tính tiền sử dụng đất theo quy định tại Nghị định này. Hộ gia đình, cá nhân cam kết về nội dung này và chịu trách nhiệm về cam kết của mình, thể hiện tại đơn đề nghị chuyển mục đích sử dụng đất.
Trường hợp cơ quan, người có thẩm quyền phát hiện hộ gia đình, cá nhân đã được áp dụng việc tính tiền sử dụng đất theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15 nhưng vẫn đề nghị lựa chọn thửa đất để tiếp tục được hưởng chính sách này thì chuyển thông tin đến cơ quan thuế để cơ quan thuế tính lại tiền sử dụng đất bằng mức 100% chênh lệch giữa tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở và tiền sử dụng đất tính theo giá đất nông nghiệp tại thời điểm có quyết định chuyển mục đích sử dụng đất; số tiền sử dụng đất hộ gia đình, cá nhân đã nộp (nếu có) được trừ vào số tiền sử dụng đất tính lại; đồng thời, hộ gia đình, cá nhân phải nộp khoản tiền tương đương với mức chậm nộp tiền sử dụng đất được tính từ thời điểm có quyết định chuyển mục đích sử dụng đất đến thời điểm cơ quan, người có thẩm quyền có văn bản chuyển vi phạm đến cơ quan thuế theo pháp luật về quản lý thuế.
3. Việc tính số lần chuyển mục đích sử dụng đất, xác định hạn mức giao đất ở, lựa chọn thửa đất chuyển mục đích sử dụng đất để áp dụng theo quy định tại Điều này được tính từ ngày 01 tháng 8 năm 2024.
4. Giá đất ở và giá đất nông nghiệp để tính tiền sử dụng đất ở, tiền sử dụng đất nông nghiệp là giá đất trên bảng giá đất theo quy định tại Điều 8 Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Nghị quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai tại thời điểm có quyết định của cơ quan nhà nước cho thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.
5. Hạn mức giao đất ở để tính tiền sử dụng đất khi chuyển mục đích sử dụng đất được xác định như sau:
a) Hạn mức giao đất ở để tính tiền sử dụng đất theo quy định tại Điều này là hạn mức giao đất ở do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định theo quy định của pháp luật về đất đai được áp dụng tại thời điểm có quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Hạn mức này được xác định cho từng hộ gia đình, cá nhân. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân được hình thành do tách hộ theo quy định của pháp luật thì được tính là 01 đối tượng sử dụng đất để được áp dụng chính sách tính tiền sử dụng đất theo quy định tại Điều này.
b) Trường hợp nhiều hộ gia đình, cá nhân có chung quyền sử dụng đất của 01 thửa đất thì diện tích trong hạn mức giao đất ở được xác định như sau:
Trường hợp các hộ gia đình, cá nhân được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép tách thửa đất cho mỗi hộ gia đình, cá nhân thì việc xác định diện tích trong hạn mức để tính tiền sử dụng đất được tính theo từng thửa đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và theo nguyên tắc mỗi hộ gia đình, cá nhân được tách thửa chỉ được xác định diện tích đất theo hạn mức giao đất ở để tính tiền sử dụng đất một lần theo quy định tại Nghị định này.
Trường hợp các hộ gia đình, cá nhân có chung quyền sử dụng đất của 01 thửa đất mà không thực hiện hoặc không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép tách thửa đất thì việc xác định diện tích theo hạn mức giao đất ở được tính theo hạn mức của hộ gia đình hoặc cá nhân được cử là đại diện của những người có chung quyền sử dụng đất.
c) Hạn mức giao đất ở tại địa phương đối với hộ gia đình khi tính tiền sử dụng đất theo quy định tại Nghị định này được tính theo hạn mức giao đất ở cho cá nhân tại thời điểm có quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất mà không phụ thuộc vào số thành viên trong hộ gia đình có chung quyền sử dụng đất.
6. Việc tính tiền sử dụng phải nộp đối với trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất từ đất vườn, ao, đất nông nghiệp sang đất ở quy định tại điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15 thực hiện theo quy định tại Điều 20 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP.
7. Việc thu, nộp, kiểm tra, quản lý số tiền sử dụng đất tính theo quy định tại Nghị định này thực hiện theo quy định tại Nghị định số 103/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 291/2025/NĐ-CP), quy định tại Nghị định này và pháp luật về quản lý thuế.
- Sửa đổi, bổ sung quy định về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền trong lĩnh vực đất đai
Chính phủ ban hành Nghị định số 49/2026/NĐ-CP ngày 31/1/2026 quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Nghị quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai.
Trong đó, Nghị định 49/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền trong lĩnh vực đất đai.
Nghị định quy định phân cấp thẩm quyền cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện trong lĩnh vực đất đai như sau:
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền quyết định về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, điều chỉnh thời hạn sử dụng đất, gia hạn sử dụng đất, chuyển hình thức sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất, chấp thuận về việc thỏa thuận nhận quyền sử dụng đất để thực hiện dự án, chấp thuận, phê duyệt phương án sử dụng đất.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định về thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, xác nhận thay đổi trên giấy chứng nhận đã cấp, đính chính, thu hồi, hủy giấy chứng nhận đã cấp.
- Mở rộng tiêu chí xác định điều kiện chưa có nhà ở
Chính phủ ban hành Nghị định số 54/2026/NĐ-CP ngày 09/02/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định trong lĩnh vực nhà ở, kinh doanh bất động sản. Trong đó, đáng chú ý là các quy định về nhà ở xã hội.
Nghị định số 54/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 29 Nghị định số 100/2024/NĐ-CP về điều kiện nhà ở theo hướng mở rộng tiêu chí xác định điều kiện chưa có nhà ở, bao gồm cả trường hợp không có thông tin về nhà ở trong Giấy chứng nhận và không phụ thuộc thời điểm nộp hồ sơ mua, thuê mua nhà ở xã hội. Đồng thời, thẩm quyền xác nhận cũng được quy định theo hướng rộng hơn là giao cho cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận theo pháp luật đất đai. Cụ thể:
"1. Trường hợp chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình được xác định khi đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 77 của Luật Nhà ở và vợ hoặc chồng của đối tượng đó (nếu có) được xác định là không có tên hoặc không có nội dung thông tin về nhà ở trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có dự án nhà ở xã hội đó.
Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được giấy đề nghị xác nhận về điều kiện nhà ở, cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có dự án nhà ở xã hội xác nhận theo quy định tại khoản này."
- Chính phủ ban hành cơ chế xử lý khó khăn, vướng mắc trong phát triển nhà ở xã hội
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.15/2026/NQ-CP về một số cơ chế xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật về phát triển nhà ở xã hội.
Trong đó, Nghị quyết nêu rõ, hộ gia đình, cá nhân thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất, nhà ở vì mục đích quốc phòng, an ninh, để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng theo quy định của pháp luật mà chưa được Nhà nước bồi thường bằng nhà ở, đất ở thì được mua, thuê mua nhà ở xã hội không phải bốc thăm và không phải đáp ứng điều kiện về nhà ở, điều kiện về thu nhập theo quy định.
Đối tượng lao động hợp đồng không xác định thời hạn hưởng lương từ ngân sách nhà nước làm việc tại các đơn vị công an được mua, thuê mua, thuê nhà ở cho lực lượng vũ trang nhân dân.
- Khai thác tài sản công khi chưa được cơ quan quyết định bị phạt tới 5 triệu đồng
Nghị định số 55/2026/NĐ-CP ngày 9/2/2026 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung nhiều quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý tài sản công.
Trong đó, Nghị định bổ sung quy định về xử phạt hành vi vi phạm quy định về khai thác tài sản công tại cơ quan, tổ chức, đơn vị.
Theo đó, tổ chức có hành vi khai thác tài sản công khi chưa được cơ quan, người có thẩm quyền ban hành Quyết định khai thác tài sản công theo quy định bị phạt từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.
- Tập trung nguồn lực đẩy nhanh đo đạc, lập bản đồ địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai
Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà ký Chỉ thị 05/CT-TTg ngày 13/02/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc khẩn trương tập trung nguồn lực đẩy nhanh tiến độ đo đạc lập bản đồ địa chính; đăng ký đất đai; lập hồ sơ địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Chỉ thị yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, các bộ, ngành chỉ đạo các địa phương tiếp tục hoàn thiện khối lượng nhiệm vụ còn lại trong Chiến dịch làm giàu, làm sạch cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai; hoàn thành trong tháng 3/2026.
Đôn đốc các địa phương khẩn trương tập trung nguồn lực, đẩy nhanh tiến độ đo đạc lập bản đồ địa chính, hồ sơ địa chính; xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai ở địa phương; đồng thời, đưa ngay kết quả vào quản lý, vận hành, khai thác, đồng bộ, tích hợp vào cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai; hoàn thành trong tháng 12/2026.
Tập trung nguồn lực xây dựng, lựa chọn giải pháp đẩy nhanh tiến độ xây dựng hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin và phần mềm để thống nhất quản lý, vận hành, khai thác hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai tại trung ương; hoàn thành trong tháng 3/2026.
- Triển khai thi hành Luật Tiết kiệm, chống lãng phí
Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Hòa Bình ký Quyết định số 307/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiết kiệm, chống lãng phí (Kế hoạch).
Kế hoạch đưa ra 7 nội dung chính để triển khai thi hành Luật. Cụ thể:
1- Xây dựng các Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành và Nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiết kiệm, chống lãng phí như: Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Tiết kiệm, chống lãng phí; Nghị định quy định chi tiết việc áp dụng hình thức kỷ luật, miễn trừ, giảm nhẹ trách nhiệm xử lý kỷ luật đối với hành vi gây lãng phí và hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí và Nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiết kiệm, chống lãng phí.
2- Tổ chức rà soát văn bản quy phạm pháp luật: Rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiết kiệm, chống lãng phí thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước được phân công; thực hiện theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền kịp thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật đảm bảo phù hợp với quy định của Luật Tiết kiệm, chống lãng phí và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành có liên quan.
3- Tổ chức thực hiện Ngày toàn dân tiết kiệm, chống lãng phí năm 2026: Xây dựng, ban hành Kế hoạch tổ chức thực hiện Ngày toàn dân tiết kiệm, chống lãng phí năm 2026 theo quy định tại khoản 3 Điều 38 Luật Tiết kiệm, chống lãng phí.
4- Tổ chức quán triệt, truyền thông, phổ biến Luật và các văn bản quy định chi tiết thi hành.
5- Phổ biến, giáo dục pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật.
6- Kiểm tra, giám sát, đôn đốc, theo dõi việc thi hành Luật Tiết kiệm, chống lãng phí.
7- Biên soạn tài liệu, hướng dẫn áp dụng, tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, tiếp nhận và xử lý kiến nghị (nếu có).
- Chiến lược phát triển ngành thép giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050
Phó Thủ tướng Chính phủ Bùi Thanh Sơn ký Quyết định số 261/QĐ-TTg ngày 09/02/2026 phê duyệt Chiến lược phát triển ngành thép giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Chiến lược phấn đấu đến năm 2030 sản xuất thép thô tăng trưởng bình quân khoảng 7,0% - 8,0%/năm, sản lượng đạt khoảng 25 - 26 triệu tấn/năm; thép thành phẩm tăng trưởng từ 5,5% - 6,5%/năm, sản lượng đạt khoảng 32 - 33 triệu tấn/năm; thép tiêu thụ bình quân 270 - 280 kg/người/năm. Sản phẩm của ngành thép về cơ bản đáp ứng được khoảng 80% - 85% nhu cầu sử dụng trong nước và từng bước tăng tỷ trọng xuất khẩu.
- Chiến lược phát triển ngành sữa giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045
Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn ký Quyết định số 309/QĐ-TTg ngày 23/2/2026 phê duyệt Chiến lược phát triển ngành sữa giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Chiến lược).
Mục tiêu là xây dựng ngành công nghiệp chế biến sữa Việt Nam phát triển bền vững với chuỗi giá trị ngành sữa hoàn chỉnh từ khâu phát triển đàn bò sữa, tăng sản lượng sữa tươi nguyên liệu đến chế biến thành phẩm giá trị gia tăng cao. Ngành sữa đáp ứng cơ bản nhu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và tham gia ngày càng sâu trong chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng sữa khu vực và toàn cầu.
- Kế hoạch cải cách hành chính nhà nước trọng tâm giai đoạn 2026 - 2030
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký Quyết định 282/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch cải cách hành chính nhà nước trọng tâm giai đoạn 2026 - 2030.
Mục tiêu của Kế hoạch đến năm 2030 có hệ thống pháp luật công bằng, đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch và khả thi; xây dựng được đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chuyên nghiệp, có chất lượng cao, có số lượng, cơ cấu hợp lý; đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ mới.
Mức độ hài lòng trong tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính của người dân, doanh nghiệp đạt tối thiếu 95%, trong đó, mức độ hài lòng về giải quyết các thủ tục hành chính lĩnh vực đất đai, xây dựng, đầu tư đạt tối thiểu 90%...
- Xử lý khó khăn, vướng mắc trong xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.14/2026/NQ-CP ngày 10/02/2026 về việc xử lý khó khăn, vướng mắc trong việc xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng.
Nghị quyết này quy định về xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng để xử lý khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện Điều 66 Luật Công chứng số 46/2024/QH15 về Cơ sở dữ liệu công chứng.
Theo Nghị quyết, Cơ sở dữ liệu công chứng được xây dựng bao gồm thông tin về công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng, thông tin về giao dịch được công chứng, thông tin về biện pháp ngăn chặn và cảnh báo rủi ro trong hoạt động công chứng, văn bản công chứng và các tài liệu khác trong hồ sơ công chứng.
Cơ sở dữ liệu công chứng do Bộ Tư pháp xây dựng và quản lý đồng bộ, thống nhất từ trung ương đến địa phương.
Cơ sở dữ liệu công chứng phải được cập nhật đầy đủ, chính xác, kịp thời và bảo đảm an ninh, an toàn theo quy định của pháp luật.
Việc thu thập, khai thác, sử dụng và cung cấp thông tin Cơ sở dữ liệu công chứng phải tuân thủ các quy định của pháp luật về giao dịch điện tử, dữ liệu, bí mật cá nhân, an ninh mạng.
- Quy định mới về đăng ký cư trú cho người chưa thành niên
Nghị định số 58/2026/NĐ-CP của Chính phủ đã sửa đổi, bổ sung một số quy định về đăng ký cư trú cho người chưa thành niên.
Theo quy định mới, trường hợp người chưa thành niên đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú tại nơi thường trú, nơi tạm trú của cha, mẹ hoặc cha hoặc mẹ hoặc người giám hộ thì cha hoặc mẹ hoặc người giám hộ thực hiện kê khai, xác nhận ý kiến vào Tờ khai thay đổi thông tin cư trú.
Trường hợp người chưa thành niên đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú tại nơi thường trú, nơi tạm trú không phải là nơi thường trú, nơi tạm trú của cha, mẹ hoặc người giám hộ thì cha hoặc mẹ hoặc người giám hộ thực hiện kê khai, xác nhận ý kiến vào Tờ khai thay đổi thông tin cư trú. Trường hợp người chưa thành niên được Tòa án quyết định giao cho cha hoặc mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng thì người được giao chăm sóc, nuôi dưỡng kê khai, xác nhận ý kiến vào Tờ khai thay đổi thông tin cư trú.
- Quy định về tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia
Chính phủ ban hành Nghị định số 60/2026/NĐ-CP ngày 13/02/2026 quy định về tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia.
Nghị định quy định tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia có chức năng, nhiệm vụ như sau:
1. Nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, thiết kế, chế tạo, thử nghiệm, sản xuất, hoàn chỉnh, cung ứng, sửa chữa, cải hoán, cải tiến, hiện đại hoá các sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh theo quy định tại khoản 2 Điều 45a Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp. Căn cứ tình hình thực tế, yêu cầu, nhiệm vụ phát triển công nghiệp an ninh và bảo đảm an ninh, trật tự, Bộ trưởng Bộ Công an quyết định danh mục sản phẩm, dịch vụ cụ thể thuộc các nhóm sản phẩm, dịch vụ quy định tại điểm a khoản 2 Điều 45a Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp; định kỳ hằng năm hoặc đột xuất xem xét điều chỉnh, bổ sung.
2. Nghiên cứu, làm chủ công nghệ chiến lược, công nghệ nền, công nghệ lõi, công nghệ lưỡng dụng; chuyển giao, tiếp nhận chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh.
3. Huy động tối đa các nguồn lực của Nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân tham gia phát triển công nghiệp an ninh, gồm:
a) Xây dựng và áp dụng các cơ chế, chính sách ưu đãi thu hút, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao trong nước và nước ngoài để nâng cao năng lực nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, thiết kế, chế tạo, thử nghiệm, sản xuất, hoàn chỉnh, cung ứng, sửa chữa, cải hoán, cải tiến, hiện đại hoá các sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh;
b) Sử dụng hiệu quả ngân sách nhà nước, Quỹ đầu tư phát triển công nghiệp an ninh và nguồn vốn từ các tổ chức tài chính, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế và các tổ chức quốc tế;
c) Thực hiện tiếp nhận chuyển giao công nghệ, hỗ trợ về nhân lực từ các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài;
d) Xây dựng, tiếp nhận và sử dụng hiệu quả các khu công nghiệp an ninh, khu công nghiệp an ninh lưỡng dụng, phòng thí nghiệm, hệ thống cơ sở hạ tầng do Nhà nước đầu tư hoặc tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân hỗ trợ để thực hiện nhiệm vụ của tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia;
đ) Huy động các nguồn lực hợp pháp khác để thực hiện nhiệm vụ được giao.
4. Nghiên cứu, sản xuất, cung cấp các sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh phục vụ nhu cầu của lực lượng Công an nhân dân, các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân. Chuyển giao công nghệ lưỡng dụng, phù hợp cho các tổ chức, doanh nghiệp để hợp tác, liên doanh, liên kết nghiên cứu, sản xuất sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
5. Đổi mới công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, chuyển đổi số, nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về công nghiệp an ninh tập trung vào các quốc gia, doanh nghiệp có trình độ khoa học và công nghệ phát triển. Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế, tham gia chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu và xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh.
- Thủ tướng Chính phủ chỉ thị tăng cường thực thi quyền sở hữu trí tuệ
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký Chỉ thị số 02/CT-TTg ngày 30/01/2026 về việc tăng cường thực thi quyền sở hữu trí tuệ.
Để kịp thời đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi và hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp; xây dựng môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, lành mạnh, nâng cao hình ảnh, uy tín quốc gia, góp phần phát triển đất nước nhanh và bền vững, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền được giao, quyết liệt tổ chức thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đấu tranh ngăn chặn, xử lý nghiêm các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ với phương châm 6 rõ "rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền"; chịu trách nhiệm về kết quả thực thi, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.
Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ Công an và các bộ, cơ quan có liên quan khẩn trương nghiên cứu, tổ chức xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về thực thi quyền sở hữu trí tuệ theo hướng toàn diện, cập nhật, theo thông lệ quốc tế và đúng quy định của pháp luật, phấn đấu hoàn thành và đưa vào vận hành trong năm 2026 và duy trì tính bền vững trong những năm tiếp theo...
- Triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ
Phó Thủ tướng Nguyễn Chí Dũng ký Quyết định số 224/QĐ-TTg ngày 3/2/2026 triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ.
Nội dung của Kế hoạch gồm: Xây dựng văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật; tổ chức quán triệt, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về nội dung của Luật và các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật; rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật; pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật; hình thành và triển khai chương trình quốc gia hỗ trợ tạo ra, bảo hộ, khai thác, quản lý, phát triển đối tượng quyền sở hữu trí tuệ; tổ chức kiểm tra việc thi hành Luật và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật; tổ chức các nội dung hỗ trợ thi hành Luật theo quy định pháp luật.
- Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày 24/02/2026 Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Nghị quyết yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố cần cụ thể hóa và tổ chức triển khai thực hiện 8 nhóm nhiệm vụ sau:
1. Đổi mới mạnh mẽ tư duy, thống nhất cao về nhận thức và hành động nhằm phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới.
2. Hoàn thiện thể chế tạo đột phá chiến lược, khơi thông nguồn lực phát triển văn hóa.
3. Chú trọng xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, xây dựng môi trường văn hóa nhân dân, văn minh.
4. Đổi mới phương thức quản lý văn hóa theo hướng kiến tạo, phục vụ; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tạo động lực bứt phá cho phát triển văn hóa.
5. Xây dựng hệ sinh thái văn hóa, thúc đẩy sáng tạo, trong đó doanh nghiệp là động lực, người dân vừa là chủ thể vừa là trung tâm, nhận diện và ứng xử thích hợp với tài nguyên văn hóa.
6. Thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, thị trường văn hóa, định vị sản phẩm văn hóa thương hiệu quốc gia, gắn với phát triển du lịch văn hóa.
7. Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, phát triển hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực văn hóa đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên mới.
8. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về văn hóa, phát huy giá trị văn hóa Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, góp phần xứng đáng gia tăng sức mạnh mềm quốc gia.
- Xây dựng bộ nhận diện hình ảnh quốc gia Việt Nam
Phó Thủ tướng Mai Văn Chính đã ký Quyết định số 173/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Chiến lược hướng tới mục tiêu truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài một cách chủ động, toàn diện, thống nhất và hiệu quả, qua đó nâng cao nhận thức, thiện cảm và sự tin tưởng của cộng đồng quốc tế đối với đất nước, con người, văn hóa và những thành tựu phát triển của Việt Nam, góp phần khẳng định vị thế, uy tín, bản sắc và năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới; góp phần hạn chế tác động của các thông tin có ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh của Việt Nam; tạo môi trường thuận lợi cho việc mở rộng hợp tác quốc tế, thu hút đầu tư, thúc đẩy du lịch, phát triển kinh tế - xã hội.
Điểm mới quan trọng của Chiến lược là lần đầu tiên đặt ra yêu cầu xây dựng nội dung và thông điệp truyền thông. Trong đó, xác định các trụ cột chính tạo nên hình ảnh Việt Nam; xây dựng hệ thống thông điệp truyền thông trọng tâm, trọng điểm; linh hoạt điều chỉnh theo từng giai đoạn, từng thị trường và từng nhóm công chúng; khai thác các "câu chuyện Việt Nam" - là những câu chuyện, hình mẫu, nhân vật, sự kiện, sáng kiến, sản phẩm tiêu biểu trên các lĩnh vực để lan tỏa hình ảnh đất nước và xây dựng bộ nhận diện hình ảnh quốc gia Việt Nam.
- Phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với đối tượng và địa bàn vùng dân tộc thiểu số
Phó Thủ tướng Mai Văn Chính ký Quyết định số 233/QĐ-TTg ngày 3/2/2026 phê duyệt Đề án "Phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với đối tượng, địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035".
Đề án được thực hiện từ năm 2026 đến hết năm 2035 tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, địa bàn phức tạp về an ninh, trật tự xã hội.
Mục đích của Đề án là đổi mới toàn diện công tác phổ biến giáo dục pháp luật để tạo đột phá về nhận thức, ý thức thượng tôn Hiến pháp, pháp luật và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật; hình thành thói quen tự giác tìm hiểu pháp luật phù hợp với đặc thù của đồng bào dân tộc thiểu số, địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; góp phần thực hiện thống nhất, đồng bộ, hiệu quả công tác dân tộc, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi...
- Đẩy mạnh phát triển các đô thị Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu
Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà ký Chỉ thị số 04/CT-TTg ngày 13/2/2026 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh triển khai Đề án phát triển các đô thị Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021 - 2030.
Để tăng cường chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên trong cải tạo nâng cấp và phát triển đô thị, góp phần từng bước kiểm soát và giảm mức độ ô nhiễm không khí, nước, đất theo các tiêu chuẩn quốc tế; rà soát, bổ sung và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quy hoạch, quản lý đầu tư phát triển đô thị trong bối cảnh gia tăng nguy cơ từ biến đổi khí hậu, Thủ tướng Chính phủ chỉ thị Bộ Xây dựng phối hợp với các bộ, ngành, các địa phương tiếp tục triển khai hoàn thiện, đồng bộ các cơ chế chính sách, quy định, quy phạm pháp luật về phát triển đô thị tăng trưởng xanh; phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị xanh, thông minh; xây dựng các quy chuẩn, tiêu chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật trong phát triển vật liệu xanh, công trình xanh, công trình sử dụng năng lượng hiệu quả; tổ chức lập Quy hoạch tổng thể hệ thống đô thị và nông thôn đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050 và các chương trình, dự án đầu tư nâng cấp đô thị, tăng trưởng xanh, thông minh, ứng phó với biến đổi khí hậu cho giai đoạn 2025 - 2030 và các giai đoạn tiếp theo.
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch quản lý, sử dụng đất để phát triển đô thị theo đúng quy định pháp luật; tăng cường kiểm soát quá trình phát triển đô thị theo quy hoạch và kế hoạch, rà soát các kịch bản thay đổi của khí hậu, phân chia theo mức độ chống chịu với thiên tai, thảm họa; tiếp tục rà soát, xây dựng chương trình phát triển đô thị, kế hoạch phát triển đô thị theo quy định pháp luật trong đó tập trung nguồn lực đầu tư xây dựng hoàn chỉnh hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị đảm bảo kết nối giữa các khu vực trong đô thị; thực hiện nâng cấp, cải tạo, xây dựng đồng bộ hệ thống hạ tầng xã hội hiện đại tại đô thị và mạng lưới cung cấp dịch vụ hạ tầng xã hội nhằm thúc đẩy phát triển đô thị thông minh, xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu...
- Chủ động ứng phó xâm nhập mặn ở ĐBSCL và hạn hán, cháy rừng ở khu vực Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký Công điện số 15/CĐ-TTg ngày 20/2/2026 về việc chủ động ứng phó với xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long và hạn hán, cháy rừng ở khu vực Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ.
Thủ tướng yêu cầu Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường chỉ đạo theo dõi sát tình hình diễn biến thời tiết, thủy văn, nguồn nước; tổ chức dự báo ngắn hạn, dài hạn về thủy văn, nguồn nước, hạn hán, xâm nhập mặn, cháy rừng, thường xuyên cung cấp thông tin để các cơ quan chức năng, địa phương biết, chủ động thực hiện các giải pháp phòng, chống, tuyệt đối không để xảy ra tình huống gây bị động, bất ngờ; chỉ đạo triển khai các biện pháp phòng, chống hạn hán, xâm nhập mặn, phòng chống cháy rừng phù hợp với thực tế và thông tin nhận định, lưu ý hướng dẫn địa phương thực hiện việc điều chỉnh thời vụ, xác định thời điểm xuống giống lúa phù hợp, trữ nước cho vùng cây trồng cạn có giá trị kinh tế cao, bảo đảm hạn hán, xâm nhập mặn mùa khô năm 2025 - 2026 không gây thiệt hại đến sản xuất nông nghiệp và ảnh hưởng đến nguồn nước sinh hoạt của người dân...
- Bảo đảm mức sinh thay thế trên toàn quốc
Phó Thủ tướng Lê Thành Long ký Quyết định số 291/QĐ-TTg ngày 13/2/2026 phê duyệt "Chương trình Bảo đảm mức sinh thay thế trên toàn quốc đến năm 2030" (Chương trình).
Mục tiêu của Chương trình là tăng tỷ lệ sinh để đạt và duy trì mức sinh thay thế trên toàn quốc đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực, góp phần thực hiện thành công Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững đất nước.
Chương trình phấn đấu đến năm 2030, tăng trung bình 2% tổng tỷ suất sinh trên toàn quốc mỗi năm. Trên 95% các cặp vợ chồng, nam, nữ trong độ tuổi sinh đẻ được cung cấp thông tin về kết hôn, sinh con để đạt và duy trì mức sinh thay thế trên toàn quốc. 100% tỉnh, thành phố thực hiện các chính sách hỗ trợ các cặp vợ chồng, cá nhân sinh con, nuôi con…
- Chính sách đối với người lao động khi cổ phần hóa doanh nghiệp
Chính phủ ban hành Nghị định số 57/2026/NĐ-CP ngày 12/2/2026 về cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp, trong đó có nội dung đáng chú ý về chính sách đối với người lao động khi cổ phần hóa doanh nghiệp gồm: chính sách bán cổ phần cho người lao động và chính sách đối với người lao động dôi dư.
Nghị định quy định cụ thể đối tượng được mua cổ phần với giá ưu đãi bao gồm:
- Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động và người quản lý doanh nghiệp của doanh nghiệp cổ phần hóa tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa.
- Người lao động của doanh nghiệp cổ phần hóa tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa đã được cử xuống làm đại diện phần vốn tại các doanh nghiệp khác chưa được hưởng chính sách mua cổ phần ưu đãi tại các doanh nghiệp khác.
- Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động và người quản lý doanh nghiệp của doanh nghiệp cấp II (chưa được hưởng chính sách mua cổ phần ưu đãi tại các doanh nghiệp khác) tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa của doanh nghiệp cấp I.
Các đối tượng nêu trên được mua tối đa 100 cổ phần cho mỗi năm thực tế làm việc tại khu vực nhà nước với giá bán bằng 60% giá trị 01 cổ phần tính theo mệnh giá (10.000 đồng/cổ phần).
- Phát triển đội ngũ cán bộ Mặt trận vững mạnh đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới
Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 234/QĐ-TTg ngày 03/02/2026 phê duyệt Đề án "Bồi dưỡng cán bộ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp giai đoạn 2026 - 2031".
Mục tiêu của Đề án nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất, trình độ, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong tình hình mới.
Chuẩn hóa về chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ công chức Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp, trong đó ưu tiên bồi dưỡng cán bộ, công chức chuyên trách Mặt trận, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp và cán bộ ở các xã vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn...
- Trường hợp được xóa hoặc miễn chi phí bồi hoàn học bổng và chi phí đào tạo
Chính phủ ban hành Nghị định số 51/2026/NĐ-CP ngày 02/02/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 143/2013/NĐ-CP ngày 24/10/2013 của Chính phủ quy định về bồi hoàn học bổng và chi phí đào tạo.
Trong đó, Nghị định số 51/2026/NĐ-CP bổ sung Điều 7a về xóa hoặc miễn chi phí bồi hoàn học bổng và chi phí đào tạo (sau đây gọi chung là chi phí đào tạo) đối với người học chương trình giáo dục cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ được hưởng học bổng và chi phí đào tạo từ nguồn ngân sách nhà nước hoặc do nước ngoài tài trợ theo Hiệp định ký kết với nhà nước Việt Nam mà không chấp hành sự điều động làm việc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền sau khi tốt nghiệp.
Nghị định quy định trường hợp người học được xóa hoặc miễn chi phí bồi hoàn:
a) Xóa chi phí bồi hoàn trong trường hợp người học đã chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết theo quy định của pháp luật;
b) Miễn chi phí bồi hoàn một trong các trường hợp sau:
Người học được cơ sở y tế có thẩm quyền xác nhận không đủ sức khỏe để làm việc;
Người học chấp hành nghĩa vụ làm việc chưa đủ thời gian theo quy định nhưng sau đó được cơ quan có thẩm quyền quyết định điều động, luân chuyển, biệt phái hoặc chuyển công tác đến vị trí khác;
Người học do nguyên nhân khách quan, bất khả kháng nên không thể chấp hành sự điều động làm việc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc bồi hoàn xem xét, quyết định việc miễn chi phí bồi hoàn đối với trường hợp này.
- Nâng cao nhận thức về đào tạo nghề lao động nông thôn đối với phát triển kinh tế - xã hội
Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thành Long ký Quyết định số 326/QĐ-TTg ngày 24/02/2026 ban hành Kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 10/7/2024 của Ban Bí thư về đổi mới công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn (Kế hoạch).
Mục tiêu của Kế hoạch là tạo chuyển biến mạnh mẽ, nâng cao nhận thức xã hội về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của đào tạo nghề cho lao động nông thôn đối với phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, nâng cao dân trí và đời sống của người dân nông thôn.
Theo Kế hoạch, các bộ ngành, địa phương tập trung chỉ đạo thực hiện hiệu quả 4 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau: Nâng cao nhận thức xã hội về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của đào tạo nghề cho lao động nông thôn đối với phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, nâng cao dân trí và đời sống của người dân nông thôn; nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, trách nhiệm phối hợp của các cơ quan, tổ chức trong đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn; bảo đảm nguồn lực thực hiện nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn; đổi mới mạnh mẽ, nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
- Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp
Phó Thủ tướng Lê Thành Long ký Quyết định số 336/QĐ-TTg ngày 25/2/2026 phê duyệt Chương trình "Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp giai đoạn 2026 - 2035" (Chương trình).
Mục tiêu của Chương trình là hình thành văn hóa khởi nghiệp trong các cơ sở giáo dục; lan tỏa tinh thần và khát vọng khởi nghiệp, phát triển sản phẩm, giải pháp khởi nghiệp có giá trị, mang bản sắc Việt Nam. Tạo điều kiện để người học phát huy vai trò trung tâm sáng tạo, từng bước nâng cao năng lực làm chủ tri thức và công nghệ; khuyến khích tham gia đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh góp phần phát triển nguồn nhân lực cho kinh tế tri thức và phát triển bền vững. Phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp trong các cơ sở giáo dục đồng bộ, thực chất, với sự hỗ trợ hiệu quả từ cơ chế, chính sách của Nhà nước, dịch vụ hỗ trợ, hạ tầng, nền tảng số và vốn mồi, giúp người học vốn hóa tri thức, hình thành doanh nghiệp khởi nguồn, khởi nghiệp, đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững...