Phát huy giá trị kép của di sản
Bảo tồn gắn với phát huy di sản, tạo ra nhiều sản phẩm văn hóa - du lịch hấp dẫn
Trong nhiệm kỳ 2021 - 2026, di sản văn hóa đã vượt khỏi khuôn khổ bảo tồn tĩnh để trở thành nguồn lực phát triển công nghiệp văn hóa. Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV của Đảng lần đầu tiên đề cập khái niệm "kinh tế di sản", mở ra kỳ vọng bản sắc dân tộc không chỉ được gìn giữ, mà còn là động lực tăng trưởng mạnh mẽ của đất nước thời gian tới.
Bảo tồn thích nghi - khi di sản bắt nhịp đời sống hiện đại
5 năm qua, công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa đã đạt được những kết quả mang tính bước ngoặt. Theo Báo cáo tổng kết nhiệm kỳ của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, nhiều giá trị văn hóa truyền thống và di sản văn hóa được kế thừa, bảo tồn và phát huy, hình thành nhiều sản phẩm văn hóa - du lịch hấp dẫn, thúc đẩy phát triển du lịch, tạo việc làm cho cộng đồng dân cư nơi có di sản, góp phần quan trọng thay đổi cơ cấu kinh tế địa phương.
Dấu ấn đậm nét nhất về mặt pháp lý chính là Luật Di sản văn hóa (sửa đổi) được Quốc hội thông qua năm 2024, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho việc bảo vệ di sản trong bối cảnh mới. Cùng với đó, Chương trình Bảo tồn và phát huy bền vững giá trị di sản văn hóa Việt Nam, giai đoạn 2021 - 2025; Chương trình số hóa di sản văn hóa giai đoạn 2021 - 2030; Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025 - 2035 đã khẳng định quyết tâm đưa di sản trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội.
Điểm nổi bật trong giai đoạn này là sự thay đổi tư duy, di sản không còn bị “đóng băng”, bảo tồn tĩnh, mà trở thành chất liệu cho công nghiệp văn hóa và sáng tạo. Cách tiếp cận của Hà Nội và nhiều địa phương đã cho thấy di sản phải được sử dụng, “sống” trong cộng đồng.
“Từ góc độ quan sát của UNESCO, chúng tôi rất vui mừng vì cách tiếp cận như vậy rất đúng hướng. Người dân đến với di sản không chỉ là khách tham quan, chiêm ngưỡng, mà thúc đẩy sự sáng tạo lấy cảm hứng từ di sản. Quá trình bảo tồn di sản trong 5 năm qua chuyển đổi từ câu chuyện chuyên gia dẫn dắt, sang có sự tham gia của cộng đồng” - Trưởng ban Văn hóa - Văn phòng UNESCO tại Việt Nam Phạm Thị Thanh Hường nhận xét.
Theo đó, việc kết hợp bảo tồn với sáng tạo đã tạo ra những sản phẩm văn hóa có chiều sâu, mang bản sắc địa phương, đồng thời nâng cao giá trị cạnh tranh và giá trị gia tăng; bà Phạm Thị Thanh Hường dẫn chứng ví dụ điển hình là Lễ hội Thiết kế sáng tạo Hà Nội, nơi di sản và sáng tạo gắn kết chặt chẽ, trong đó sự tham gia của cộng đồng đã trở thành yếu tố quyết định. Tại Hà Nội, không gian di sản như Văn Miếu - Quốc Tử Giám hay Hoàng thành Thăng Long cũng được “tái sinh” thành không gian sáng tạo, giao lưu và trải nghiệm. Di sản vẫn giữ nguyên giá trị, nhưng được biểu đạt bằng nhiều hình thức mới, tạo sự hấp dẫn và gắn kết với đời sống hiện đại.
Cùng với Hà Nội, xu hướng bảo tồn thích nghi cũng xuất hiện tại nhiều địa phương như Hội An, Huế, Đà Lạt... Đây là cách tiếp cận đang được quốc tế khuyến khích, coi di sản là nguồn lực to lớn, gắn chặt với cộng đồng. Thực tiễn tại Việt Nam cũng mở ra về mặt lý luận cách tiếp cận bảo tồn thích nghi và bảo tồn động, gắn kết di sản và công nghiệp văn hóa…
Bước tiến mới trong kết hợp bảo tồn và phát triển
Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV của Đảng lần đầu tiên đề cập đến khái niệm “phát triển kinh tế di sản”, đánh dấu bước tiến mới trong tư duy kết hợp giữa bảo tồn và phát triển. TS. Nguyễn Tiến Thư, Phó Viện trưởng Viện Văn hóa và Phát triển, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh cho đây là nhận thức mới về giá trị kép của di sản: vừa là tài sản văn hóa tinh thần, vừa là nguồn lực kinh tế đóng góp vào tăng trưởng bền vững. Di sản không chỉ được bảo tồn bằng ngân sách nhà nước, mà còn nhờ nguồn lực xã hội hóa, sáng tạo và sự tham gia của cộng đồng.
Đồng quan điểm, TS. Trần Hữu Sơn, Viện trưởng Viện Văn hóa dân gian ứng dụng nhận định, kinh tế di sản là một ngành kinh tế mới. Bảo tồn tạo ra nguồn lực cho phát triển du lịch, công nghiệp sáng tạo; ngược lại, kinh tế di sản đóng vai trò “bệ đỡ” tài chính để duy trì di sản. Các loại hình khai thác vô cùng đa dạng, từ du lịch tâm linh, trải nghiệm văn hóa đến các sản phẩm OCOP, thủ công mỹ nghệ và ẩm thực truyền thống...

Phát huy sáng tạo gắn với di sản. Ảnh: BVHTTDL
Những mô hình thực tiễn đã khẳng định hiệu quả của hướng đi này: Tràng An phát triển kinh tế di sản thông qua du lịch bền vững, kết hợp du lịch sinh thái với di sản văn hóa và thiên nhiên; Hội An bảo tồn đô thị cổ gắn với dịch vụ thương mại; Huế triển khai mô hình kinh tế di sản, kết hợp bảo tồn với phát triển du lịch và công nghiệp sáng tạo…
Khi được quản lý và vận hành hợp lý, kinh tế di sản mang lại nhiều lợi ích quan trọng cho sự phát triển quốc gia: đóng góp nguồn lực cho bảo tồn, phát huy vai trò cộng đồng, thúc đẩy hội nhập và vị thế quốc gia. Nhận định như vậy, TS. Trần Đoàn Lâm, Hội Di sản văn hóa Việt Nam, đề xuất chiến lược dịch chuyển từ “kinh tế phí tham quan” (Entrance Fee Economy) sang “kinh tế giá trị sáng tạo” (Creative Value Economy). Thay vì chỉ thu phí vào cửa, cần khai thác di sản phi vật thể để tạo ra các sản phẩm phái sinh giá trị cao thông qua sức sáng tạo của giới trẻ và doanh nghiệp khởi nghiệp.
Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ số (3D, AR/VR) được xem là hướng đi tất yếu để vừa bảo tồn dữ liệu, vừa giảm tải cho các di tích vật thể dễ bị tổn thương, đồng thời lan tỏa giá trị di sản ra toàn cầu.
Dù mở ra nhiều cơ hội, kinh tế di sản đòi hỏi cơ chế quản trị chặt chẽ. TS. Trần Đoàn Lâm góp ý, cần xây dựng quy định chi tiết cho các dự án hợp tác công tư (PPP), minh bạch hóa cơ chế chia sẻ lợi ích với cộng đồng; phân cấp quản lý đi kèm với hệ thống tiêu chuẩn quốc gia; đào tạo đội ngũ am hiểu cả về di sản, kinh tế và công nghệ...
Kinh tế di sản là định hướng chiến lược dài hạn, chuyển đổi di sản từ tài sản tĩnh sang nguồn lực kinh tế năng động và bền vững. Việc kết hợp hài hòa giữa bảo tồn và phát triển sẽ là chìa khóa để Việt Nam bảo tồn bản sắc và kiến tạo tương lai thịnh vượng trên nền tảng văn hóa dân tộc.