Phụ nữ Việt Nam trên mặt trận đối ngoại hậu chiến
Bà Tôn Nữ Thị Ninh đến thăm nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình vào tháng 8/2025
Nhà ngoại giao Tôn Nữ Thị Ninh đã chia sẻ các câu chuyện, đưa ra các nhận định cùng Báo Phụ nữ Việt Nam xoay quanh chủ đề phụ nữ Việt Nam trên mặt trận đối ngoại hậu chiến.
Dấu ấn của phụ nữ Việt Nam, dấu ấn Madam Bình
Tôi sẽ đặt vấn đề mặt trận đối ngoại trong tổng thể của việc bảo vệ độc lập, chủ quyền của đất nước. Liên quan đến phụ nữ thì chúng ta luôn nhớ phương châm: Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh. Ở đây, nghĩa đen của từ "đánh" là để tự vệ, để bảo vệ quốc gia về mặt an ninh quốc phòng. Đã "đánh" là có thể đổ máu. Nhưng tôi nghĩ là không chỉ hiểu việc "đánh" bằng vũ khí, bằng sức mạnh vật chất, và liên quan tới hy sinh thân thể.
Cần phải nhìn nhận "đánh" trên tất cả các phương diện, kể cả mặt trận đối ngoại. Không phải chỉ thời nay phụ nữ mới tham gia đóng góp vào đối ngoại. Ý tôi muốn nói là trong nhận thức chung của xã hội và cộng đồng, liệu việc phụ nữ Việt Nam có xuất hiện trong nhận thức của quốc tế không? Khẳng định là hoàn toàn có.
Cách khác là phụ nữ Việt Nam chưa bao giờ bị vô hình, bị che lấp hình ảnh, che lấp các đóng góp, bản lĩnh. Ở thời hiện đại, phụ nữ càng ngày càng có điều kiện khách quan và chủ quan đóng góp cho mặt trận đối ngoại.
Mặt trận đối ngoại, như tôi hiểu, không phải là sự trang trí, hay để làm đẹp. Đó là một chiều kích của quốc phòng, như nói phía trên, để bảo vệ chủ quyền đất nước, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia.
Để làm việc đó, không chỉ có biện pháp vũ lực quốc phòng mà ngoại giao đóng vai trò then chốt và chiến lược. Các quốc gia khác thế nào tôi không rõ, nhưng tôi chắc chắn Việt Nam trong tổng thể về đường lối, chính sách và biện pháp bảo vệ độc lập chủ quyền và lợi ích quốc gia, ngoại giao luôn luôn giữ vai trò then chốt.
Nói thật, chúng ta đã đẩy lùi nhiều đợt phương Bắc rồi, "triều đình" Việt Nam cử đại diện tới, thừa nhận vị thế thực tế nhỏ bé hơn, nhưng hoàn toàn độc lập, khẳng định chủ quyền, đồng thời thừa nhận thực tế tương quan, về quy mô, sức mạnh vật chất.
Trong bức tranh tổng thể đó, điều không đáng ngạc nhiên là, phụ nữ Việt Nam có mặt trên mặt trận đối ngoại từ rất sớm và đang tiếp tục đóng góp nổi bật trong giai đoạn mới với gương mặt nữ liên tục đảm nhiệm vai trò người phát ngôn của Bộ Ngoại giao, một số Đại sứ nữ và gần đây, 2 thứ trưởng ngoại giao nữ cùng thời điểm.
Nửa sau thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21, gương mặt không thể không nhắc tới là bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam tại đàm phán Paris là 1 trong 4 trưởng đoàn đã đặt bút ký vào Hiệp định Paris ngày 27/1/1973 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.
Hội nghị đó là một chủ trương tổng thể của toàn bộ bộ máy lãnh đạo Việt Nam, thế nhưng theo dấu ấn tâm thức trong dư luận quốc tế thì phải nói rằng, bên cạnh cố vấn Lê Đức Thọ và Bộ trưởng Xuân Thuỷ, thì Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình đã để dấu ấn sâu đậm, đặc sắc và khác biệt.
Điều đó nói lên phụ nữ Việt Nam thời kháng chiến đấu tranh để mang lại hoà bình thống nhất đất nước đã có mặt trên mặt trận ngoại giao, then chốt nhất là Đàm phán Paris. Tôi xin nhắc, phái đoàn của Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam xuất hiện xung quanh bàn đàm phán hầu như toàn phụ nữ. Ngoài bà Nguyễn Thị Bình còn có bà Nguyễn Thị Chơn, vợ đồng chí Trần Bạch Đằng, có đại tá Nguyễn Ngọc Dung, có bà Đỗ Duy Liên.
Có một câu chuyện tôi phải kể tới, đó là nửa chừng bà Đỗ Duy Liên nhận được tin, chồng đã hy sinh trên đường mòn Hồ Chí Minh nên bà đã về nước. Nhưng trước đó, bà Liên thường xuyên ngồi cùng bà Nguyễn Thị Bình và bà Nguyễn Thị Chơn trên bàn đàm phán.
Trong 4 phái đoàn, chỉ có phái đoàn của Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam chủ yếu là phụ nữ đại diện. Ngay cả phái đoàn Mỹ hay phái đoàn chính quyền Sài Gòn, không thấy phụ nữ nào. Đây là một dấu ấn lịch sử của việc tham gia đóng góp trực tiếp và sự trưởng thành của phụ nữ trong đấu tranh và sự nghiệp ngoại giao, đối ngoại của đất nước, đặc biệt ở phía Nam. Tôi cho rằng khi viết lại các câu chuyện về ngoại giao Việt Nam trong đàm phán hoà bình, đây chính là dấu son đặc biệt của Việt Nam, phụ nữ Việt Nam.
Đường hướng ngoại giao và phụ nữ trong đối ngoại hậu chiến
Khi hoà bình lập lại, một trong những việc quan trọng đầu tiên là gìn giữ, duy trì và phát huy tác dụng, ý nghĩa của hoà bình cho phát triển. Hoà bình để phát triển chứ không chỉ hưởng thụ cuộc sống an bình mà nghèo nàn, thiếu thốn vật chất.
Bà Nguyễn Thị Bình sau khi hoà bình lập lại đã cho thành lập Quỹ Hoà bình và Phát triển Việt Nam, bây giờ gọi là Hội đồng Hoà bình và Phát triển Việt Nam. Đó chính là thông điệp Hoà bình làm bàn đạp, khuôn khổ để có thể vươn lên phát triển, gia nhập cộng đồng các nước phát triển trên thế giới.
Điều này tôi hiểu là hiệu triệu của đất nước từ thời Bác Hồ: Độc lập - Tự do - Hạnh phúc. Tôi hiểu hạnh phúc ở đây, chính là Hoà bình, Phát triển và Công bằng cho mọi người.
Như vậy, con đường để phụ nữ sau khi hoà bình lập lại tiếp tục đóng góp rộng mở trên mặt trận đối ngoại. Quả thật đây là thời kỳ của đối ngoại tổng lực.
Tổng lực ở đây triển khai và kết hợp cả 4 kênh là đối ngoại Đảng - đối ngoại nhà nước - đối ngoại nghị viện (tức là Quốc hội) - và đối ngoại nhân dân.
Nhận thức xã hội nhiều khi nghĩ đối ngoại nghị viện là đối ngoại nhà nước. Điều này là không chính xác. Phải tách đối ngoại nghị viện thành một nhánh có vai trò riêng. Trong một xã hội phát triển, nghị viện phải giữ vai trò, tiếng nói, phương thức hoạt động riêng. Chúng ta không giống xã hội phương Tây, nhưng chúng ta không thể gộp đối ngoại Quốc hội và đối ngoại Nghị viện dưới "mũ" duy nhất là Nhà nước. Vì chúng ta hội nhập quốc tế, chúng ta tham gia đầy đủ những tổ chức, diễn đàn liên nghị viện. Đó là một kênh đối ngoại, mà qua đó chúng ta cần phát huy sinh hoạt dân chủ, và tiếng nói của nhân dân.
Điều đó vô cùng quan trọng trước thực tế, người ta thường cho rằng, một nước theo đường lối xã hội chủ nghĩa thì dân chủ và tự do bị hạn chế. Do vậy phải phát huy tiếng nói, hình ảnh, gương mặt, phương thức hoạt động, đóng góp và tiếng nói đặc thù của Quốc hội. Để thế giới nhìn vào Việt Nam đánh giá đúng, hiểu đúng về cách vận hành đời sống Chính trị, Kinh tế, Xã hội, Văn hoá ở nước ta.
Chúng ta đã từng có Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội là nữ. Sắp tới cũng có thể lại có Chủ tịch Quốc hội là nữ chăng?! Điều đó rất phù hợp để chúng ta giải thích, giới thiệu cách vận hành quyền của dân trong chế độ của ta. Như vậy các đại biểu, lãnh đạo nữ trong Quốc hội cũng đang tham gia mặt trận đối ngoại tương đối có ý nghĩa vì họ có các cuộc họp đa dạng và tiếp xúc rộng rãi. Đừng quên ngoại giao đa phương liên nghị viện mà phụ nữ đóng góp khá đặc sắc.
Bài toán đặt ra cho sự vươn lên phát triển của đất nước, kỷ nguyên và thời vận của dân tộc trên chặng đường 2030-2045, trong đó chắc chắn phụ nữ phải trả lời: Có chúng tôi!
Phụ nữ phải chủ động đóng góp hiệu quả, đặc sắc hơn nữa vào mặt trận đối ngoại mà tôi gọi là tổng lực. Trong ngành ngoại giao nhà nước, đang có 2 nữ Thứ trưởng ngoại giao, người phát ngôn của Bộ Ngoại giao liên tiếp là nữ, và có không ít đại sứ nữ Việt Nam trên thế giới. Những chị em đi trước, phải có trách nhiệm vừa mở đường, hỗ trợ, tư vấn, cố vấn cho chị em đi sau vươn cao, vươn xa, vươn rộng ra để đóng góp cho các kênh đối ngoại với những hình thức, phương thức hoạt động đối ngoại khác nhau.
Trong các tầng nấc đối ngoại ấy, có ngoại giao chính trị và ngoại giao quốc phòng. Ngoại giao chính trị trên báo chí đã đăng tải nhiều. Tôi chỉ xin bình luận một chút về ngoại giao quốc phòng. Tôi khẳng định: Chủ trương "4 không" của chính sách quốc phòng là hoàn toàn phù hợp với giai đoạn mới, định vị mới và ngoại giao của Việt Nam trong bối cảnh địa chính trị biến động và thách thức hiện nay.
Thông điệp xuyên suốt về mặt chính sách quốc tế của Việt Nam là, Việt Nam sẵn sàng đấu tranh vũ lực để giành lại độc lập toàn vẹn lãnh thổ và hoà bình. Nhưng khi có hoà bình rồi, Việt Nam muốn phấn đấu bằng biện pháp hoà bình để gìn giữ hoà bình, phát huy hoà bình và tạo môi trường quốc tế hòa bình nhằm phát triển đất nước, mang lại hạnh phúc cho nhân dân.
Tôi ủng hộ hoàn toàn, bất di bất dịch, không thay đổi về chính sách "4 không". Đây chính là "bùa hộ mệnh" cho độc lập, tự do, chủ quyền của Việt Nam. Đây là một phần của sức mạnh mềm Việt Nam để duy trì hoà bình cho quốc gia, cho khu vực và trong chừng mực có thể cho cộng đồng quốc tế. Như chúng ta đang đóng góp thông qua việc cử lực lượng gìn giữ hoà bình tại Nam Sudan.
Gần đây nhất là đối thoại ngoại giao văn hoá đang được xới lên. Ngoại giao văn hoá phải là mũi nhọn của chủ trương, chiến dịch phát huy văn hoá Việt Nam trong nước và ra thế giới. Đây là hướng đi phụ nữ có thể đóng góp đặc biệt, nổi bật, có chiều sâu và góc cạnh để nâng cao hơn nữa sức mạnh mềm Việt Nam.