Siết chặt các khoản thu, chống lừa đảo để bảo vệ người lao động đi làm việc nước ngoài
Bộ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Tiến Hải hát biểu tiếp thu, giải trình trước Quốc hội sáng 24/8
Doanh nghiệp phải minh bạch các khoản thu, không lừa đảo, thu tiền dịch vụ trái quy định; hợp đồng đưa lao động đi nước ngoài phải ghi rõ các khoản thu, tiền ký quỹ và điều kiện chấm dứt hợp đồng.
Sáng 24/8, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Luật có hiệu lực từ ngày 1/3/2027.
Trước khi Quốc hội biểu quyết, Bộ trưởng Nội vụ Nguyễn Tiến Hải đã thay mặt Chính phủ trình bày báo cáo tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo luật.
Chỉ được thu phí đào tạo sau khi người lao động ký hợp đồng
Theo đó, Luật bổ sung quy định cấm hành vi lừa đảo để chiếm đoạt tài sản của người lao động, cấm thu tiền dịch vụ và các khoản thu từ người lao động không đúng quy định pháp luật.
Trong thời gian chuẩn bị nguồn lao động, doanh nghiệp phải minh bạch các khoản thu trong văn bản ký với người lao động về việc tham gia chương trình. Văn bản phải thể hiện các khoản như phí đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghề, ngoại ngữ và các khoản thu khác nếu có.
Doanh nghiệp chỉ được thu phí đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghề và ngoại ngữ sau khi người lao động được phía nước ngoài tuyển chọn và ký hợp đồng đưa đi làm việc ở nước ngoài.
Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài phải thể hiện các khoản thu từ người lao động, tiền ký quỹ, điều kiện đơn phương chấm dứt hợp đồng, việc giải quyết tranh chấp và bồi thường thiệt hại.
Bộ trưởng Bộ Nội vụ được giao quy định mẫu hợp đồng và các khoản thu từ người lao động. Theo Chính phủ, việc này nhằm tăng tính công khai, minh bạch về chi phí, kiểm soát tổng thể các khoản thu của doanh nghiệp, hạn chế thu ngoài quy định hoặc thay đổi tên gọi khoản thu gây bất lợi cho người lao động.
Doanh nghiệp cũng phải công khai, cập nhật trên trang thông tin điện tử các thông tin theo quy định pháp luật liên quan đến hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
Đáng chú ý, Luật cũng bổ sung các quy định nhằm ngăn chặn lừa đảo, môi giới trái phép, mua bán người và cưỡng bức lao động.
Doanh nghiệp phải trực tiếp tuyển chọn người lao động hoặc phối hợp với tổ chức, cá nhân nước ngoài tiếp nhận lao động; không được tuyển chọn thông qua bên thứ 3 hoặc ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác thực hiện. Doanh nghiệp cũng không được cho tổ chức, cá nhân khác sử dụng giấy phép của mình để đưa người lao động ra nước ngoài.
Các hành vi lôi kéo, dụ dỗ, hứa hẹn, quảng cáo, tư vấn gian dối hoặc cung cấp thông tin sai sự thật nhằm lừa người lao động bị nghiêm cấm. Doanh nghiệp cũng không được thu tiền dịch vụ và các khoản khác trái quy định.
Luật cấm người lao động đi làm việc ở nước ngoài hoặc doanh nghiệp tuyển chọn, chuẩn bị nguồn, đưa người lao động ra nước ngoài làm công việc massage. Quy định này cũng áp dụng với khu vực có chiến sự hoặc nơi cơ quan chức năng Việt Nam khuyến cáo không đến, hạn chế đến.
Doanh nghiệp phải có người đại diện ở nước ngoài để hỗ trợ, xử lý vấn đề phát sinh. Khi xảy ra vụ việc đe dọa tính mạng, sức khỏe, quyền lợi của người lao động hoặc tình huống khẩn cấp liên quan an ninh, an toàn tại nước tiếp nhận, doanh nghiệp phải báo ngay cho cơ quan chức năng và cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài.
Ưu tiên đưa lao động trình độ cao đi làm việc ở nước ngoài
Luật bổ sung chính sách ưu tiên đưa người lao động đã qua đào tạo, có trình độ chuyên môn, kỹ thuật đi làm việc ở nước ngoài. Quy định này không chỉ giới hạn ở lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao.
Người lao động có thể nâng cao thu nhập, rèn luyện kỹ năng nghề, học ngoại ngữ, tiếp cận công nghệ, phương thức quản lý và tác phong làm việc hiện đại trong quá trình làm việc ở nước ngoài.
Người làm việc trong một số ngành nghề đòi hỏi chuyên môn, kỹ thuật hoặc lĩnh vực Nhà nước ưu tiên phát triển sẽ được hưởng chính sách đặc thù khi ra nước ngoài. Chính phủ sẽ quy định cụ thể các chính sách này phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội từng thời kỳ.
Sau khi về nước, người lao động được hỗ trợ kết nối với thị trường việc làm trong nước. Cơ chế này được xác định nhằm sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực đã tích lũy tay nghề, kinh nghiệm và kiến thức công nghệ ở nước ngoài.
Việc ưu tiên lao động đã qua đào tạo không tạo rào cản đối với lao động phổ thông hoặc người chưa qua đào tạo. Ngành nghề và thị trường ưu tiên sẽ được lựa chọn phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế, chiến lược ngoại giao và nguồn nhân lực trong nước.
Luật cũng quy định người lao động không phải đóng bảo hiểm xã hội hoặc thuế thu nhập cá nhân hai lần tại Việt Nam và nước tiếp nhận nếu hai nước đã ký hiệp định có nội dung tránh đóng bảo hiểm xã hội hoặc đánh thuế 2 lần.

Sáng 24/8, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Luật có hiệu lực từ ngày 1/3/2027.
Hỗ trợ người dân tộc thiểu số đi làm việc ở nước ngoài
Bên cạnh các quy định bảo vệ người lao động, Luật phân cấp một số thủ tục cho địa phương. Theo đó, người lao động trực tiếp ký hợp đồng với đơn vị nước ngoài đăng ký hợp đồng tại cơ quan chuyên môn về lao động thuộc UBND cấp tỉnh nơi thường trú.
Doanh nghiệp đưa người lao động ra nước ngoài thực tập, nâng cao tay nghề cũng đăng ký hợp đồng tại cơ quan chuyên môn về lao động thuộc UBND cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính.
Đối với người dân tộc thiểu số, người sinh sống tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi hoặc địa bàn đặc biệt khó khăn, Bộ Nội vụ phối hợp với Bộ Dân tộc và Tôn giáo thực hiện chính sách hỗ trợ đi làm việc ở nước ngoài. Nhóm lao động này cũng được hỗ trợ hòa nhập xã hội, tham gia thị trường việc làm sau khi về nước.
Việc phân cấp thủ tục được thực hiện trong bối cảnh Luật sửa đổi hướng tới cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính và tăng cường phân quyền cho chính quyền địa phương.
Chờ xuất cảnh tối đa 180 ngày
Luật quy định doanh nghiệp phải cam kết bằng văn bản về thời gian chờ xuất cảnh sau khi người lao động trúng tuyển đi làm việc ở nước ngoài, với thời hạn không quá 180 ngày kể từ ngày người lao động trúng tuyển.
Nếu doanh nghiệp không thực hiện đúng cam kết, phải bồi thường theo thỏa thuận và hoàn trả tiền dịch vụ đã thu cùng các khoản khác người lao động đã nộp theo quy định. Bộ trưởng Bộ Nội vụ được giao quy định hình thức bồi thường, hoàn trả tiền cho người lao động.
Quy định này nhằm hạn chế tình trạng người lao động phải chờ đợi kéo dài sau khi đã trúng tuyển, đồng thời tăng trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc thực hiện cam kết.