Sửa Luật Hòa giải ở cơ sở lấy người dân làm trung tâm
Ảnh minh họa
Coi người dân là trung tâm và chủ thể trong giải quyết mâu thuẫn cộng đồng, việc sửa đổi Luật Hòa giải ở cơ sở không chỉ tháo gỡ những "nút thắt" bất cập từ thực tiễn mà còn củng cố "lá chắn" giữ gìn sự bình yên của xóm làng trong bối cảnh vận hành chính quyền địa phương hai cấp và đẩy mạnh chuyển đổi số.
Tỷ lệ hòa giải thành cao, nhưng thực tiễn đặt ra bài toán mới
Theo thống kê của Bộ Tư pháp, tính đến hết năm 2025, cả nước có 85.855 tổ hòa giải với 547.235 hòa giải viên. Trong giai đoạn 2014 - 2025, các tổ hòa giải đã tiếp nhận hơn 1,5 triệu vụ việc. Tỷ lệ hòa giải thành trung bình toàn quốc đạt 81,92%, nhiều địa phương đạt từ 85% đến 90%. Hàng nghìn vụ tranh chấp đất đai, mâu thuẫn hôn nhân gia đình hay mâu thuẫn dân sự đã được giải quyết êm đẹp ngay từ ban đầu, giúp giảm tải đáng kể áp lực cho hệ thống Tòa án và giữ vững an ninh trật tự tại địa bàn dân cư.
Tuy nhiên, trước yêu cầu sắp xếp tổ chức bộ máy chính quyền địa phương theo mô hình 02 cấp và sự chuyển dịch mạnh mẽ của đời sống kinh tế - xã hội, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã bộc lộ nhiều điểm chưa theo kịp thực tế. Thực tiễn áp dụng luật hiện nay đang cùng lúc vấp phải nhiều "nút thắt" phức tạp. Trước hết là rào cản về không gian và công nghệ khi nhịp sống dịch chuyển sang môi trường số, nhiều người dân đi làm ăn xa nhà, lao động ở nước ngoài hoặc tranh chấp xảy ra giữa các bên ở địa bàn khác nhau khiến việc triệu tập gặp mặt trực tiếp tại nhà văn hóa thôn, tổ dân phố trở nên vô cùng khó khăn.
Cùng với đó, việc sáp nhập thôn, tổ dân phố và vận hành mô hình chính quyền hai cấp khiến quy mô địa bàn quản lý rộng hơn, dân số đông hơn, tính chất mâu thuẫn dân sự ngày càng phức tạp. Điều này đặt ra áp lực rất lớn lên vai đội ngũ hòa giải viên, những người vừa phải đáp ứng yêu cầu hiểu biết pháp luật, công nghệ hiện đại, vừa phải đối mặt với thực tế là chế độ thù lao và kinh phí hỗ trợ hoạt động hiện vẫn còn nhiều hạn chế, chưa thực sự tương xứng với nỗ lực ở cấp cơ sở.
Lấy người dân làm trung tâm và bảo vệ nhóm yếu thế

GS.TS Trần Ngọc Đường, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội
Đánh giá dưới góc độ pháp lý và dân chủ ở cơ sở, GS.TS Trần Ngọc Đường, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội và Ủy viên Đoàn Chủ tịch, Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn về Dân chủ và Pháp luật thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cho rằng, việc sửa đổi Luật cần một tư duy bứt phá hơn: "Việc sửa đổi luật phải chuyển mạnh sang tư duy phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân, coi hòa giải ở cơ sở là một cơ chế dân chủ xã hội để người dân trực tiếp tham gia quản lý xã hội. Nguyên tắc xuyên suốt phải thể hiện rõ: Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới. Hòa giải không chỉ là giải quyết vụ việc cụ thể mà là phòng ngừa tranh chấp và củng cố khối đại đoàn kết từ gốc."
Bên cạnh đó, các chuyên gia pháp lý và đại biểu cũng đặc biệt nhấn mạnh đến việc bảo vệ nhóm yếu thế (phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật). Dự thảo Luật cần phân định ranh giới rõ ràng, tuyệt đối không để hòa giải biến thành "áp lực" ép buộc người bị bạo lực gia đình hay phụ nữ phải nhẫn nhịn chịu đựng. Với các vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự hoặc xâm hại, hòa giải viên phải đóng vai trò là cầu nối kịp thời bảo vệ nạn nhân và chuyển cơ quan chức năng xử lý theo đúng quy định.
Đồng thời, để giữ chân và động viên đội ngũ hòa giải viên tận tụy trong bối cảnh địa bàn quản lý rộng hơn sau khi sáp nhập thôn, tổ dân phố, nhiều ý kiến đề nghị Luật sửa đổi cần quy định cụ thể mức kinh phí tối thiểu từ ngân sách và nâng mức thù lao theo vụ việc, bảo đảm tương xứng với công sức của lực lượng ở cơ sở.
Hòa giải thời công nghệ, người dân chờ đợi điều gì?

Tranh chấp đất đai là một trong những tranh chấp phức tạp, tốn nhiều thời gian và tiền bạc.
Thực tế hiện nay cho thấy, rất nhiều trường hợp tranh chấp phát sinh khi một trong hai bên đang đi làm ăn xa, làm việc tại các thành phố lớn hoặc nước ngoài. Việc bắt buộc phải có mặt trực tiếp tại nhà văn hóa thôn, tổ dân phố để tiến hành hòa giải gây tốn kém chi phí, thời gian đi lại, thậm chí khiến nhiều vụ việc rơi vào bế tắc do không thể tập hợp đủ các bên.
Anh Nguyễn Văn Hùng, quê Nghệ An, hiện đang lao động tại Đài Loan, Trung Quốc chia sẻ: "Năm ngoái, gia đình tôi ở quê có tranh chấp ranh giới đất vườn với nhà hàng xóm. Tổ hòa giải ở quê mời về làm việc nhiều lần nhưng tôi đang đi làm việc ở nước ngoài, chi phí vé máy bay đắt đỏ và thủ tục xin nghỉ việc rất khó khăn nên không thể về ngay được. Giá như có chế định cho phép ngồi từ xa tham gia họp qua video call hay xác thực biên bản điện tử thì vụ việc đã không kéo dài cả năm trời khiến tình cảm xóm giềng sứt mẻ."
Để giải quyết điểm nghẽn này, dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) đã bước đầu bổ sung các quy định khuyến khích ứng dụng công nghệ thông tin. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng quy định cần cụ thể hơn để người dân thực sự được hưởng lợi và yên tâm khi tham gia. Nhấn mạnh đến tính khả thi và quyền lợi của người dân, đại biểu Phạm Thu Xanh, Đoàn ĐBQH TP. Hải Phòng, chỉ rõ: "Dự thảo Luật bước đầu đã thể hiện chủ trương khuyến khích ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng ở mức khuyến khích chung chung thì rất khó áp dụng. Luật cần quy định rõ điều kiện tiến hành hòa giải trực tuyến, giá trị pháp lý của hồ sơ, biên bản điện tử, cũng như phương thức xác thực danh tính của các bên để đảm bảo tính pháp lý sau này."
Đại biểu Phạm Thu Xanh cũng đề nghị cần giao Chính phủ xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về hòa giải ở cơ sở và ban hành hệ thống mẫu biểu điện tử thống nhất trên toàn quốc. Điều này không chỉ giúp quản lý đồng bộ mà còn giảm thiểu tối đa chi phí hành chính và thời gian cho người dân khi thực hiện thủ tục.

Đại biểu Thái Thị An Chung, Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An
Đồng quan điểm, đại biểu Thái Thị An Chung, Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An, cho rằng việc kết nối cơ sở dữ liệu hòa giải với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và hệ thống dữ liệu pháp luật hiện có là yếu tố then chốt. Sự kết nối này giúp việc xác minh thông tin, danh tính các bên tranh chấp diễn ra nhanh chóng, chính xác, bảo đảm tính minh bạch và bảo vệ dữ liệu cá nhân của người dân trong suốt quá trình hòa giải.
Tuy nhiên, đối với khu vực đặc thù như vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nơi hạ tầng công nghệ chưa đồng bộ, nhiều ý kiến cho rằng cần kết hợp hài hòa giữa công nghệ và yếu tố con người, đồng thời nên ưu tiên lựa chọn hòa giải viên là người có uy tín, già làng, trưởng bản am hiểu phong tục tập quán, bởi đây mới là "chìa khóa" cốt lõi để tháo gỡ mâu thuẫn từ gốc rễ.
Những góp ý từ thực tiễn của các đại biểu và chuyên gia phản ánh đúng tâm tư của cử tri. Người dân mong muốn một Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) không chỉ tinh gọn về bộ máy, mà phải tạo ra cơ chế hòa giải linh hoạt, thuận tiện. Ở đó, người dân có thể lựa chọn hòa giải trực tiếp hoặc trực tuyến, biên bản hòa giải điện tử được công nhận pháp lý rõ ràng, giúp tiết kiệm thời gian, công sức mà vẫn bảo đảm sự hòa giải thành công, thấu tình đạt lý.