Sửa Luật Tố tụng hình sự - Bài 2: Thủ tục rút gọn, làm sao để không oan sai?
Sự rút gọn thủ tục có thể giảm thời gian, nguồn lực và chi phí tố tụng. Nhưng để người bị buộc tội lựa chọn nhận tội một cách tự nguyện và việc giải quyết vụ án vẫn đúng đắn, cần đặt ra những điều kiện và cơ chế kiểm soát chặt chẽ.
Vì sao cần rút gọn thủ tục tố tụng?
Trao đổi với Báo Phụ nữ Việt Nam liên quan đến Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi), PGS.TS Trần Văn Độ - nguyên Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao phân tích mục tiêu, ý nghĩa của việc bổ sung thủ tục rút gọn đối với các vụ án có bị can, bị cáo tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt để được hưởng khoan hồng.
PGS.TS Trần Văn Độ cho rằng, mục đích của việc thiết kế thủ tục rút gọn đối với các vụ án có bị can, bị cáo tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt để được hưởng khoan hồng là nâng cao hiệu lực, hiệu quả của pháp luật, giảm những chi phí phát sinh khi phải tiến hành đầy đủ các hoạt động tố tụng.

PGS.TS Trần Văn Độ - nguyên Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao. Ảnh: Phi Hùng
Theo ông, quá trình tố tụng kéo dài sẽ làm tiêu tốn đáng kể thời gian và nguồn lực. Trong khi đó, với những vụ án mà việc buộc tội đã tương đối rõ ràng, người bị buộc tội thừa nhận hành vi và các bên thống nhất về việc giải quyết vụ án thì không nhất thiết phải kéo dài toàn bộ quá trình tố tụng. Việc rút ngắn thủ tục trong những trường hợp này, theo PGS.TS Trần Văn Độ, sẽ giúp giảm thời gian và nguồn lực phải bỏ ra để giải quyết vụ án.
Ông phân tích, một quá trình tố tụng đầy đủ không chỉ đòi hỏi thời gian của các cơ quan tiến hành tố tụng mà còn kéo theo nhiều chi phí khác. Vì vậy, nếu có những vụ án đã tương đối rõ ràng, việc người bị buộc tội nhận tội và chấp nhận hình phạt sẽ tạo điều kiện để giảm bớt những chi phí không cần thiết của quá trình tố tụng. Đây cũng là lý do ông đặt vấn đề về việc phải nâng cao hiệu lực, hiệu quả của pháp luật và giảm chi phí tuân thủ.
Muốn người bị buộc tội lựa chọn cách thức này, phải tạo được động lực. Theo ông, nếu người bị buộc tội nhận tội, qua đó tiết kiệm được thời gian, sức lực và thể hiện sự ăn năn, hối cải thì phải được giảm hình phạt. Khi nhận tội đem lại lợi ích cụ thể về hình phạt, người bị buộc tội sẽ có cơ sở để lựa chọn.
Theo PGS.TS Trần Văn Độ, đây là điểm cần thiết khi thiết kế thủ tục. Người bị buộc tội phải thấy được việc nhận tội có lợi ích nhất định so với việc không nhận tội và tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục thông thường. Lợi ích đó được ông đề cập ở việc được giảm hình phạt, qua đó tạo động lực để người bị buộc tội lựa chọn.
PGS.TS Trần Văn Độ cho biết, ông đã đề xuất vấn đề này từ trước, từ thời điểm xây dựng Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và trong quá trình xây dựng Hiến pháp. Tuy nhiên, theo ông, cơ chế này phải được nghiên cứu đầy đủ trước khi áp dụng.
Ông dẫn kinh nghiệm của một số quốc gia như Mỹ, Đức, Pháp, nơi việc nhận tội được gắn với việc giảm hình phạt. Theo ông, đây là một cách để tiết kiệm chi phí tố tụng, đồng thời giảm những nguồn lực phải bỏ ra trong quá trình thi hành, cải tạo người chấp hành hình phạt.
Ông Độ cho rằng ở những quốc gia này, số lượng vụ án được giải quyết theo hình thức nhận tội chiếm tỷ lệ rất cao. Khi người bị buộc tội nhận tội và được giảm hình phạt, Nhà nước cũng giảm được thời gian, chi phí và nguồn lực dành cho việc giải quyết vụ án cũng như cải tạo người chấp hành hình phạt. Ông lấy đó làm một trong những cơ sở để cho rằng đây là vấn đề cần được nghiên cứu trong quá trình nâng cao hiệu quả tố tụng.
Từ đó, PGS.TS Trần Văn Độ đặt vấn đề trong yêu cầu chung về tăng cường hiệu lực, hiệu quả của pháp luật và giảm chi phí tuân thủ. Theo ông, đây là hướng cần được nghiên cứu và phải chấp nhận nếu muốn nâng cao hiệu quả của tố tụng.
Những "chốt" kiểm soát để không oan sai
Theo PGS.TS Trần Văn Độ, cùng với mục tiêu nâng cao hiệu quả, điều kiện áp dụng thủ tục này phải rất chặt chẽ, đồng thời phải có những cơ chế kiểm soát đủ tốt để tránh oan, sai.
Trước hết, việc nhận tội phải thực sự tự nguyện. Người bị buộc tội không được nhận tội do bị ép buộc hoặc chịu áp lực từ quá trình tố tụng. Theo ông, không thể sử dụng các biện pháp tố tụng để gây áp lực, buộc người bị buộc tội nhận tội chỉ để giải quyết vụ án nhanh hơn.
Nếu việc nhận tội cho thấy có khả năng dẫn đến oan thì không thể công nhận việc nhận tội đó. Theo PGS.TS Trần Văn Độ, ngay cả khi người bị buộc tội đã nhận tội, Tòa án vẫn phải xem xét. Nếu nhận thấy việc kết tội có thể dẫn đến oan thì phải tuyên không có tội, chứ không phải vì người đó đã nhận tội mà chấp nhận việc buộc tội.
Ông cũng nhấn mạnh nguyên tắc lời nhận tội của người bị buộc tội không được là chứng cứ duy nhất để kết tội. Không thể có tình trạng không có chứng cứ khác, chỉ vì người bị buộc tội nhận tội mà đưa ra quyết định kết tội.
Theo ông Độ, yêu cầu này phải được đặt ra ngay trong cách thức thiết kế và áp dụng thủ tục. Nhận tội có thể giúp quá trình tố tụng được rút ngắn, nhưng không thể vì thế mà bỏ qua việc xem xét các chứng cứ khác của vụ án. Nếu còn nghi ngờ về việc có thể dẫn đến oan thì việc nhận tội không thể được coi là căn cứ để đi đến kết luận có tội. Để kiểm soát việc này, PGS.TS Trần Văn Độ cho rằng phải có sự tham gia của nhiều chủ thể.
Trước hết là luật sư. Người bị buộc tội nhận tội phải có luật sư giúp đỡ về pháp lý. Nếu muốn nhận tội thì phải có luật sư; trường hợp cần thiết phải chỉ định luật sư để người bị buộc tội được hỗ trợ, hiểu rõ vấn đề trước khi đưa ra quyết định.
Theo PGS.TS Trần Văn Độ, luật sư không chỉ tham gia với tư cách bảo vệ quyền lợi của người bị buộc tội mà còn phải giúp họ về mặt pháp lý khi đưa ra lựa chọn. Việc người bị buộc tội nhận tội phải được đặt trong điều kiện họ có sự hỗ trợ cần thiết để hiểu vấn đề trước khi quyết định.
Tiếp đó là Viện kiểm sát. Theo ông, Viện kiểm sát phải kiểm sát, giám sát hoạt động điều tra, không thể để một mình cơ quan công an thực hiện việc điều tra mà không có sự kiểm sát.
Ông Độ nhấn mạnh đây là một trong những tầng kiểm soát của cơ chế. Việc điều tra phải chịu sự kiểm sát, giám sát của Viện kiểm sát; qua đó, cơ chế kiểm soát không chỉ đặt ở khâu cuối cùng khi vụ án được đưa ra xét xử. Và Tòa án là cơ quan quyết định cuối cùng, phải giám sát tổng thể. Việc người bị buộc tội nhận tội không làm mất đi trách nhiệm kiểm tra của Tòa án đối với vụ án và nguy cơ oan, sai.
Theo ông, Tòa án phải xem xét tổng thể vụ án chứ không chỉ nhìn vào việc người bị buộc tội đã nhận tội. Nếu qua kiểm tra vẫn thấy có khả năng oan, sai thì không thể vì đã có lời nhận tội mà đưa ra quyết định kết tội. Đây là khâu kiểm soát cuối cùng mà ông Độ đặc biệt lưu ý khi nói về cơ chế này.
Theo PGS.TS Trần Văn Độ, như vậy, muốn thủ tục này vừa nhanh vừa bảo đảm đúng đắn thì điều kiện áp dụng phải chặt chẽ và các tầng kiểm soát phải đủ tốt: nhận tội phải thực sự tự nguyện; Viện kiểm sát phải kiểm sát hoạt động điều tra; người nhận tội phải có luật sư giúp đỡ; Tòa án phải kiểm soát tổng thể.
Ông cho rằng nếu những yêu cầu này được bảo đảm thì cơ chế mới vừa có thể đáp ứng yêu cầu về hiệu quả, vừa hạn chế được nguy cơ oan, sai. Đây cũng là lý do ông không chỉ đặt vấn đề về việc có nên rút ngắn tố tụng hay không, mà nhấn mạnh việc thiết kế điều kiện áp dụng và cơ chế kiểm soát phải đủ chặt.
Từ góc nhìn của ông Độ, hiệu quả là nguyên tắc cốt lõi của tố tụng. Quá trình tố tụng kéo dài sẽ gây lãng phí thời gian và nguồn lực. Nhưng cùng với yêu cầu nâng cao hiệu quả, phải tôn trọng, bảo vệ những người tham gia tố tụng.
Vì vậy, theo PGS.TS Trần Văn Độ, việc rút gọn tố tụng phải được nhìn trong mối quan hệ giữa hai yêu cầu: nâng cao hiệu quả và bảo vệ những người tham gia tố tụng. Một bên là yêu cầu giảm thời gian, nguồn lực, chi phí; bên kia là yêu cầu bảo đảm việc nhận tội thực sự tự nguyện, có luật sư hỗ trợ, có sự kiểm sát của Viện kiểm sát và sự kiểm soát tổng thể của Tòa án.